🔍
Chuyên mục: Kinh tế

38,5 triệu tỷ đồng cho tăng trưởng: Không thể mãi trông vào vốn ngân hàng

50 phút trước
Nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải mở thêm các kênh huy động vốn mới, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào vốn ngân hàng

Tại hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” ngày 23/7, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, đến ngày 13/7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025.

Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.

Theo bà Giang, trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất giai đoạn 2011-2026. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, kết quả này có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ và tín dụng.

Tuy nhiên, lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng.

Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

Các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7. Ảnh: Nguyễn Lê

TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, nhận định, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.

Theo ông, ở các quốc gia duy trì tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP thường ở mức 39-43%, trong đó vốn (gồm tiền, công nghệ, máy móc, trang thiết bị và một phần nguồn nhân lực) đóng góp khoảng 45-50%, thậm chí cao hơn vào tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, không nền kinh tế nào có thể duy trì lâu dài mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động mà cần chuyển dần sang khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất.

Ông cho rằng Việt Nam cần kết hợp đồng thời đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả thay vì chỉ tập trung huy động vốn.

Kỳ vọng hút vốn từ các kênh dẫn mới

Theo TS Cấn Văn Lực, để đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.

Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương 65% tổng nhu cầu vốn.

“Vốn tư nhân phải đóng góp gần hai phần ba nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn”, ông Lực nói.

Theo chuyên gia, Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM có thể hướng tới huy động khoảng 10-30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Ảnh: Nguyễn Huế

Trong khi đó, nguồn lực tài chính của nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh lại có những giới hạn nhất định.

Kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng. Đầu tư công vẫn còn khả năng mở rộng nhưng hiệu quả sử dụng vốn cần tiếp tục được cải thiện.

Thực tế này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, trong đó thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Ở góc nhìn khác, PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Trường Đại học Kinh tế TPHCM, cho rằng, Trung tâm tài chính quốc tế có thể mở thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn, bổ sung cho thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế đầu tư trong nước.

Cụ thể, Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM có thể hướng tới huy động khoảng 10-30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, tương đương khoảng 3-10% tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế. Tuy nhiên, trung tâm này phải thực sự trở thành cửa ngõ đưa vốn quốc tế vào nền kinh tế thực, thay vì chỉ là nơi đăng ký hoạt động của các định chế tài chính hoặc cung cấp các chính sách ưu đãi.

Trong bài tham luận tại hội thảo, các chuyên gia Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu thu hút FDI không chỉ để bổ sung vốn mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Theo đó, cần ưu tiên các chương trình tín dụng, bảo lãnh và đồng tài trợ cho doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận thị trường cổ phiếu, trái phiếu và nguồn tài trợ cho hoạt động M&A.

Trao đổi bên lề hội thảo, PGS-TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI, các quốc gia như Indonesia, Thái Lan liên tục đưa ra các chính sách ưu đãi. Lợi thế của Việt Nam nằm ở chất lượng nguồn nhân lực và sự cần cù của người lao động.

Dù vậy, năng suất lao động và trình độ nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn khoảng cách so với nhiều nước trong khu vực. Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng 1/8 Singapore.

“Nhưng nếu đưa một lao động của Việt Nam qua Singapore, họ cũng đạt được năng suất lao động như Singapore. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư cho thể chế, hạ tầng và công nghệ lõi theo chiến lược dài hạn trong 5-10 năm hoặc lâu hơn nhằm tạo động lực phát triển trong thời kỳ mới”, ông nói.

Nguyễn Lê

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ