🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2026 thiết lập đỉnh mới

23 phút trước
Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 770,1 tỷ USD, là mức cao nhất 8 tháng từ trước tới nay.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội công bố sáng ngày 3/9 của Cục Thống kê, tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước (YoY).

Trong đó, Việt Nam thu về 54,79 tỷ USD từ xuất khẩu hàng hóa, tăng 26% so với tháng 8/2025; nhập khẩu đạt 54,9 tỷ USD, tăng 37,9% YoY; nhập siêu 0,1 tỷ USD.

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 770,1 tỷ USD, là mức cao nhất 8 tháng từ trước tới nay. So với cùng kỳ năm trước, trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa tăng 28,7%.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 374,8 tỷ USD, tăng 22,4% so với 8 tháng đầu năm 2025; nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% YoY; nhập siêu 20,4 tỷ USD.

7 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 10 tỷ USD

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa khu vực kinh tế trong nước đạt 74,4 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 300,3 tỷ USD, tăng 26,9% YoY.

Về cơ cấu, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2% tỷ trọng; nông sản, lâm sản đạt 26,65 tỷ USD, chiếm 7,1%; nhóm thủy sản đạt 8 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 0,6%.

Trong kỳ, Việt Nam có 33 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên một tỷ USD, bao gồm 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD (chiếm 70% tỷ trọng).

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với trị giá 101 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,2 tỷ USD, tăng 26,4% YoY.

Các mặt hàng trong nhóm xuất khẩu 10 tỷ USD còn có điện thoại và linh kiện với trị giá 45,5 tỷ USD, tăng 19,4% YoY; dệt may đạt 26,8 tỷ USD, tăng 1,6% YoY; giày dép đạt 16,2 tỷ USD, tăng 0,7% YoY.

Việt Nam còn thu về 13,3 tỷ USD từ xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6% YoY.

Trong kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu tăng cao như hóa chất tăng 57,6% YoY, đạt 2,8 tỷ USD; dây điện và dây cáp điện tăng 27,9% YoY, đạt 3,6 tỷ USD; kim loại thường khác và sản phẩm tăng 24% YoY, đạt 3,8 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu sắt thép tăng 16% YoY, lên mức 5,4 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 22,6% YoY, đạt 6,7 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 52,9% YoY, đạt 2,3 tỷ USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 62,9% YoY, đạt 1,4 tỷ USD; xăng dầu tăng 54,2% YoY, ở mức 961 triệu USD.

Trong nhóm may mặc, kim ngạch xuất khẩu xơ sợi dệt các loại cũng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, lên 3,1 tỷ USD; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 9,5% YoY, đạt 1,7 tỷ USD.

Trong nhóm nông lâm thủy sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 11,8% YoY, lên mức 7,9 tỷ USD; rau quả cũng tăng 27,7% YoY, đạt 6,1 tỷ USD; hạt điều tăng nhẹ 2,8% YoY, ở mức 3,3 tỷ USD; hạt tiêu tăng 10,4% YoY, ở mức 1,2 tỷ USD.

Trái ngược với xu hướng tăng trên, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam lại giảm 10,8% so với 8 tháng đầu năm 2025, đạt 2,9 tỷ USD; cà phê giảm 8,6% YoY, còn 6 tỷ USD; sắn và sản phẩm của sắn giảm 2,1% YoY, đạt 840 triệu USD; chè giảm 1,5% YoY, còn 143 triệu USD.

Nhập khẩu nguyên liệu và nhiên liệu tăng trưởng mạnh

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã chi 395,3 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 105 tỷ USD, tăng 23,7% YoY; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,2 tỷ USD, tăng 40,1% YoY.

Về cơ cấu, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 57,6%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 23,26 tỷ USD, chiếm 5,9%.

43 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên một tỷ USD, riêng 3 mặt hàng nhập khẩu chiếm tới 55% tỷ trọng với kim ngạch đạt từ 10 tỷ USD trở lên.

Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 161,6 tỷ USD, tăng 68,3% so với cùng kỳ năm trước; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1% YoY; vải đạt 10,1 tỷ USD, tăng 2,5% YoY.

Trong kỳ, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam đều tăng cao. Theo đó, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu tăng tới 78,3% YoY, đạt 8,3 tỷ USD; dầu thô tăng 18,8% YoY, ở mức 6,1 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu than đá cũng tăng 35% so với 8 tháng đầu năm 2025, lên mức 6,3 tỷ USD; quặng và khoáng sản tăng 55% YoY, đạt 3,1 tỷ USD.

Ngoài nhóm năng lượng và khoáng sản, Việt Nam còn tăng mạnh nhập khẩu kim loại thường khác với +34,8% YoY, đạt 9,8 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 24,8% YoY, đạt 6,4 tỷ USD; hóa chất tăng 28,2% YoY, đạt 6,7 tỷ USD; sản phẩm hóa chất tăng 16,2% YoY, ở mức 6 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu ô tô cũng tăng tới 34,7% YoY, lên mức 8,9 tỷ USD; bao gồm ô tô nguyên chiếc tăng 29,5% YoY, đạt 3,9 tỷ USD.

Ở nhóm nông thủy sản, ngoại trừ thủy sản, các mặt hàng còn lại đều tăng cao. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đậu tương tăng 49,7% YoY, lên mức 1,2 tỷ USD; ngô tăng 38,2% YoY, đạt 2,3 tỷ USD; lúa mì tăng 37,6% YoY, đạt 1,4 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu rau quả cũng tăng 26,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 2,1 tỷ USD; sữa và sản phẩm sữa tăng 10,2% YoY, ở mức 1 tỷ USD; hạt điều tăng 5,8% YoY, đạt 3,5 tỷ USD.

Thủy sản nhập khẩu trong kỳ lại giảm nhẹ 1% so với 8 tháng đầu năm 2025, xuống còn 2,1 tỷ USD.

Lê Hồng Nhung

TIN LIÊN QUAN


































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ