Khơi thông dòng vốn qua VIFC - Bài 3: Mở đường dẫn vốn vào nền kinh tế

VIFC được kỳ vọng mở rộng các kênh dẫn vốn, kết nối thị trường tài chính quốc tế với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa
Mở “cổng kết nối”, tạo thanh khoản cho dòng vốn
Hạ tầng số và không gian làm việc có thể tạo nên hình hài của một trung tâm tài chính, nhưng chưa đủ bảo đảm dòng vốn đi vào nền kinh tế. Nếu thành viên chỉ đặt văn phòng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng ở nước ngoài, VIFC có nguy cơ hoạt động biệt lập. Phó Giáo sư - Tiến sĩ (PGS.TS) Ngô Minh Vũ, Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường chứng khoán, Trường Kinh doanh - UEH cho rằng điều khó nhất là biến sự hiện diện của các định chế thành những dòng vốn thực tế.
Trong khi đó, dư địa để thực hiện mục tiêu này khá lớn. Đến hết quý I/2026, dư nợ tín dụng tại TP Hồ Chí Minh đạt hơn 5,34 triệu tỷ đồng, chiếm 27,84% toàn hệ thống; vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam vào giữa tháng 5/2026 đạt khoảng 410 tỷ USD. Bên cạnh đó, mỗi năm hệ thống cảng biển trong nước xử lý lượng hàng hóa trị giá hơn 1.000 tỷ USD, nhưng nhiều dịch vụ thanh toán, tín dụng thương mại, bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro vẫn được thực hiện ở nước ngoài. Giá trị tài chính đi cùng hàng hóa vì thế chưa được giữ lại đầy đủ.
Các chuyên gia cho rằng, VIFC được hình thành để thu hẹp khoảng trống đó. Có thể thấy, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp trong nước vay vốn từ ngân hàng hoạt động tại VIFC và thành viên trung tâm đầu tư vào doanh nghiệp ở phần còn lại của Việt Nam theo quy định. Tuy nhiên, dẫn vốn không chỉ dừng ở tín dụng hoặc đầu tư trực tiếp. Chính phủ, địa phương và doanh nghiệp còn cần dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành, phân phối, niêm yết và huy động vốn quốc tế.
Vì thế, một “cổng kết nối” có kiểm soát được xem là mắt xích cần hoàn thiện. Cơ chế này có thể cho phép chủ thể đáp ứng điều kiện sử dụng dịch vụ của thành viên VIFC trong phạm vi huy động vốn quốc tế. Kết nối phải được giới hạn theo đối tượng, sản phẩm và mục đích sử dụng vốn; giao dịch tuân thủ quy định về ngoại hối, phòng, chống rửa tiền, công bố thông tin và bảo vệ nhà đầu tư. Theo PGS.TS Ngô Minh Vũ, nếu doanh nghiệp vẫn phải ra nước ngoài thuê toàn bộ hệ sinh thái dịch vụ, VIFC khó thực hiện chức năng dẫn vốn.
Dẫu vậy, kết nối nguồn vốn mới giải quyết phía đầu vào. Muốn nhà đầu tư rót vốn dài hạn, nhiều ý kiến cho rằng, thị trường phải cho phép họ chuyển nhượng tài sản khi cần. Nếu chỉ có thị trường sơ cấp, nhà đầu tư phải nắm giữ đến ngày đáo hạn hoặc tự tìm đối tác mua lại. Rủi ro thanh khoản tăng sẽ kéo theo yêu cầu lợi suất cao hơn, làm tăng chi phí vốn. Bởi vậy, thị trường thứ cấp là điều kiện để huy động nguồn vốn lớn, có kỳ hạn dài.
Từ yêu cầu này, PGS.TS Ngô Minh Vũ đề xuất nghiên cứu cơ sở pháp lý cho Sở Giao dịch chứng khoán quốc tế tại VIFC đi cùng hệ thống đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán. Sở giao dịch được định hướng phục vụ hoạt động xuyên biên giới, trái phiếu bằng ngoại tệ, quỹ quốc tế, dự án hạ tầng và sản phẩm tài chính xanh dành cho nhà đầu tư chuyên nghiệp. Đề xuất vẫn cần đánh giá, nhưng đã đặt đúng trọng tâm vào thanh khoản.

Hạ tầng số và không gian làm việc có thể tạo nên hình hài của một trung tâm tài chính, nhưng chưa đủ bảo đảm dòng vốn đi vào nền kinh tế. Ảnh minh họa
Thiết chế này không nhằm thay thế thị trường chứng khoán trong nước. Thị trường hiện hữu tiếp tục huy động vốn chủ yếu bằng đồng Việt Nam, còn sở giao dịch tại VIFC, nếu được thành lập, sẽ tập trung vào vốn xuyên biên giới với chuẩn vận hành riêng.
Kinh nghiệm từ Nasdaq Dubai hay Trung tâm Dịch vụ tài chính quốc tế Gujarat của Ấn Độ cho thấy, sở giao dịch phải đi cùng hệ thống lưu ký, thanh toán và giám sát. Khi cấu trúc thị trường đã rõ, chất lượng vận hành sẽ phụ thuộc vào con người.
Nhân lực quyết định sức cạnh tranh
Một trung tâm tài chính có thể mua công nghệ và xây dựng cơ sở vật chất trong thời gian ngắn, nhưng không thể nhanh chóng hình thành đội ngũ chuyên gia. Giao dịch quốc tế đòi hỏi nhân sự am hiểu tài chính, pháp luật, quản trị rủi ro, dữ liệu và ngoại ngữ.
Trong khi đó, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC tại TP Hồ Chí Minh, chi phí nhân sự tại Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/5 đến 1/3 các trung tâm phát triển, nhưng năng suất lao động của Singapore cao gấp khoảng 8 lần Việt Nam. Lợi thế chi phí vì thế phải được chuyển thành năng lực và chất lượng dịch vụ.
Thêm nữa, áp lực càng lớn khi cơ quan điều hành VIFC tại TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu thu hút 50 Trung tâm Năng lực toàn cầu trong 10 năm, tạo nhu cầu khoảng 150.000 nhân sự chất lượng cao. Chính vì vậy, VIFC Academy được định hướng hợp tác với các trường đại học, nhưng cần đi xa hơn những khóa bồi dưỡng ngắn hạn. Doanh nghiệp nên tham gia xác định chuẩn năng lực, đặt hàng chương trình và đánh giá đầu ra; người học cần tiếp cận dữ liệu, công nghệ và tình huống giao dịch thực tế.
Về thu hút nhân lực quốc tế, kế hoạch phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam đến năm 2035 xác định việc xây dựng cơ chế đặc thù về thị thực, cư trú và đãi ngộ đối với chuyên gia tài chính, công nghệ, pháp lý quốc tế. Cùng với định hướng này, Nghị định số 324/2025/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đến hết năm 2030 đối với tiền lương, tiền công của nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và người có trình độ chuyên môn cao làm việc tại VIFC.

Để giữ chân các định chế và nguồn nhân lực chất lượng cao trong dài hạn, khu vực trung tâm tài chính phải hình thành hệ sinh thái đồng bộ. Ảnh minh họa
Theo ông Lê Trọng Hiếu, Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam, để giữ chân các định chế và nguồn nhân lực chất lượng cao trong dài hạn, khu vực trung tâm tài chính phải hình thành hệ sinh thái đồng bộ, từ không gian làm việc, hạ tầng kết nối đến các dịch vụ hỗ trợ.
Song hành với bài toán nhân lực, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng hạ tầng công nghệ là điều kiện quan trọng đối với khả năng vận hành của trung tâm. Theo ông, các nhà đầu tư đòi hỏi hệ thống trung tâm dữ liệu, năng lực tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo, nguồn điện ổn định và mạng viễn thông đạt chuẩn quốc tế với chi phí cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ sổ cái phân tán và số hóa tài sản cũng phải gắn với quy trình định danh, lưu ký, giám sát và xử lý tranh chấp để bảo đảm an toàn cho thị trường.
Còn Nghiên cứu sinh - Thạc sĩ Nguyễn Thái Bình, giảng viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông nhận định, dữ liệu cần được xem là nguồn lực chiến lược, thay vì sản phẩm phát sinh từ giao dịch. Năng lực cạnh tranh của trung tâm tài chính phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng xử lý, phân tích dữ liệu theo chuẩn quốc tế. Công nghệ giám sát trên nền tảng dữ liệu còn giúp cơ quan quản lý nhận diện rủi ro, phòng ngừa gian lận và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Từ yêu cầu đó, hệ thống công nghệ thông tin dùng chung giữa TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng không nên chỉ phục vụ đăng ký thành viên mà phải hỗ trợ theo dõi giao dịch, dòng tiền và mức độ tuân thủ. Dữ liệu cần kết nối theo tiêu chuẩn thống nhất, đồng thời được phân quyền chặt chẽ. Nền tảng giám sát chung sẽ giúp đánh giá sản phẩm thử nghiệm trước khi mở rộng, hạn chế đầu tư trùng lặp và nâng khả năng kiểm soát rủi ro.
PGS.TS Ngô Minh Vũ cho rằng, để không trở thành một “ốc đảo tài chính”, VIFC phải có cơ chế kết nối có kiểm soát với nhu cầu vốn trong nước và hạ tầng thị trường đủ khả năng phát hành, giao dịch, lưu ký, thanh toán tài sản.
Bổ sung cho hai mắt xích này, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cũng nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng công nghệ và năng lực quản trị dữ liệu. Theo chuyên gia, khi những điều kiện trên được triển khai đồng bộ, sự hiện diện của các định chế quốc tế mới có thể chuyển thành dòng vốn, việc làm và phần giá trị tài chính được giữ lại tại Việt Nam.
Bài cuối: Luật cần phải theo kịp giao dịch
Bài và ảnh: Hải Yên/Báo Tin tức và Dân tộc
1 giờ trước
7 ngày trước
16 ngày trước
21 ngày trước
22 ngày trước
22 ngày trước
27 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 tháng trước
3 tháng trước
3 tháng trước
4 tháng trước
4 tháng trước
5 tháng trước
5 tháng trước
7 phút trước
35 phút trước
8 phút trước
2 giờ trước