🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản: Cần một cuộc bứt phá toàn diện

1 ngày trước
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, với đích đến kim ngạch 100 tỷ USD trước năm 2030, thậm chí sớm hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, mục tiêu này chỉ có thể thành hiện thực nếu tạo được đột phá về thể chế, mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và tổ chức thực thi.

Năm 2025 xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD; 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 35,88 tỷ USD. Ảnh minh họa do AI tạo ra.

Mục tiêu cao nhưng có cơ sở để hiện thực hóa

Tại Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức, các chuyên gia và đại diện hiệp hội đều chung nhận định, mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD vào năm 2027 là rất thách thức nhưng hoàn toàn khả thi nếu có những giải pháp đột phá về thể chế, mô hình tăng trưởng và tổ chức thực hiện.

Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính) Âu Anh Tuấn cho biết, năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD; 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 35,88 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại trong bối cảnh bảo hộ thương mại gia tăng, chi phí logistics tăng cao cùng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe.

Theo ông Tuấn, để đạt mốc 100 tỷ USD vào năm 2027, kim ngạch xuất khẩu phải tăng trên 15%. Đây là mục tiêu không dễ, song việc Chính phủ quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ tạo động lực quan trọng để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiệm cận mục tiêu đề ra.

Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) Nguyễn Thanh Bình cho rằng, mục tiêu này khá cao trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đối mặt với nhiều "điểm nghẽn" về chất lượng, kiểm dịch, kiểm nghiệm và năng lực đáp ứng yêu cầu thị trường. Tuy nhiên, với tiềm năng sản xuất và dư địa thị trường còn lớn, Việt Nam vẫn có cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu.

Trong khi đó, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Nguyễn Hoài Nam nhận định, để đạt mốc 100 tỷ USD cần một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới thay vì duy trì tốc độ tăng trưởng 15 - 20% như hiện nay. Theo ông Nam, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo ra những giải pháp đủ mạnh.

Đánh giá về dư địa tăng trưởng, chuyên gia kinh tế Đặng Kim Sơn - nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn - cho rằng, xuất khẩu nông sản Việt Nam đã có bước phát triển ngoạn mục trong nhiều năm qua nhưng đang chững lại do sản xuất nhỏ lẻ, yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe và những thay đổi trong hệ thống tổ chức. Dù vậy, theo ông Sơn, nếu quyết tâm đổi mới theo hướng đột phá, mục tiêu 100 tỷ USD không nằm ngoài tầm với.

Các chuyên gia tham gia Tọa đàm. Ảnh: CP

Đổi mới tư duy, số hóa chuỗi giá trị và tăng sức mạnh điều phối

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, muốn đạt mục tiêu 100 tỷ USD, phải chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, từ chạy theo sản lượng sang nâng cao giá trị. Việt Nam không chỉ bán nông sản mà phải bán chất lượng, thương hiệu, sự tin cậy và câu chuyện của sản phẩm. Điều đó đòi hỏi xây dựng chuỗi giá trị liên kết chặt chẽ, trong đó, Nhà nước đóng vai trò quan trọng ở các khâu truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch, kiểm nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp.

Đồng quan điểm, chuyên gia Đặng Kim Sơn nhấn mạnh, xuất khẩu nông sản không chỉ mang về hơn 70 tỷ USD và khoảng 20 tỷ USD xuất siêu mỗi năm mà còn tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng triệu nông dân, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo ông Sơn, dư địa tăng trưởng vẫn rất lớn nếu nâng cao giá trị gia tăng, phát triển chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và xây dựng thương hiệu. Để đạt mục tiêu 100 tỷ USD, cần tháo gỡ những rào cản về sản xuất nhỏ lẻ, tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường.

Một trong những giải pháp được các chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh là chuyển đổi số và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ.

Theo ông Tô Nguyễn Thành - chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản, để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, cần xây dựng nền tảng dữ liệu xuyên suốt toàn bộ chuỗi sản xuất. Mọi thông tin từ vùng trồng, nhật ký canh tác, cơ sở đóng gói, chế biến, kiểm nghiệm đến hồ sơ xuất khẩu phải được số hóa, liên thông và quản lý trên một hệ thống thống nhất nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Ông Thành cho biết, mô hình truy xuất nguồn gốc đối với sầu riêng đã được triển khai với ba cấp định danh gồm từng quả, từng thùng hàng và từng container xuất khẩu. Toàn bộ dữ liệu về quy trình sản xuất, kiểm nghiệm và thông quan được tích hợp vào mã định danh của container, tạo nền tảng kết nối với hệ thống hải quan thông minh của nước nhập khẩu, qua đó rút ngắn thời gian thông quan, nâng cao hiệu quả quản lý và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Theo ông Thành, mấu chốt là xây dựng cơ sở dữ liệu số, liên kết dữ liệu trong toàn chuỗi và liên thông giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý để tạo nền tảng cho chuyển đổi số và phát triển xuất khẩu bền vững.

Bên cạnh chuyển đổi số, các chuyên gia cho rằng, cần có một cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh ở cấp Chính phủ nhằm kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến, logistics đến xuất khẩu.

Ông Nguyễn Hoài Nam - Tổng Thư ký VASEP và ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Vinafruit đều đề xuất thành lập một tổ điều hành hoặc ban chỉ đạo cấp Chính phủ để huy động nguồn lực, xử lý kịp thời các điểm nghẽn và tạo đột phá trong thực thi. Đây là bài toán liên ngành nên cần một đầu mối đủ thẩm quyền điều phối giữa các bộ, ngành và địa phương.

Đồng quan điểm, chuyên gia Tô Nguyễn Thành và Phó Cục trưởng Cục Hải quan Âu Anh Tuấn cho rằng, việc liên thông dữ liệu, cải cách thủ tục và tháo gỡ vướng mắc chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi có sự chỉ đạo thống nhất từ Chính phủ. Kinh nghiệm triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN cho thấy cần có một tổ công tác của Thủ tướng để điều phối và xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền của từng bộ, ngành./.

HỒNG NHUNG

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ