🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Virus RSV ở trẻ dễ lây lan, nguy cơ viêm phổi

5 giờ trước
Thời tiết chuyển mùa trẻ dễ mắc các bệnh lý hô hấp, trong đó virus hợp bào hô hấp (RSV) có thể gây biến chứng viêm phổi.

Phần lớn trẻ có thể hồi phục sau khi được chăm sóc phù hợp, nhưng trẻ sinh non, mắc bệnh tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính hoặc suy giảm miễn dịch có nguy cơ diễn tiến nặng hơn, cần được theo dõi sát và đưa đi khám kịp thời khi xuất hiện dấu hiệu bất thường.

1. RSV lây lan nhanh, có thể gây viêm phổi ở trẻ nhỏ

Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus - RSV) là một trong những tác nhân phổ biến gây nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em. Virus lây truyền qua các giọt bắn, dịch tiết đường hô hấp hoặc bàn tay tiếp xúc với bề mặt có virus rồi đưa lên mắt, mũi, miệng.

RSV thường gây các triệu chứng giống cảm lạnh như ho, hắt hơi, sổ mũi, sốt và ăn, bú kém. Tuy nhiên, ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi, bệnh có thể tiến triển thành viêm tiểu phế quản hoặc viêm phổi, gây khó thở và cần nhập viện điều trị.

Bệnh thường khởi phát với các biểu hiện như ho, sổ mũi, nghẹt mũi, sau đó có thể xuất hiện sốt, bú kém hoặc thở khó. Triệu chứng thường nặng hơn trong những ngày đầu đến giữa tuần bệnh, nhưng diễn biến ở mỗi trẻ không giống nhau. Vì vậy, cha mẹ không nên chỉ dựa vào sốt cao hay thấp để đánh giá mức độ nghiêm trọng.

Phần lớn trẻ nhiễm RSV có triệu chứng nhẹ và có thể được chăm sóc tại nhà theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể chuyển nặng, đặc biệt ở nhóm trẻ có yếu tố nguy cơ.

2. Những nhóm trẻ cần đặc biệt lưu ý

Các nhóm có nguy cơ cao mắc RSV nặng gồm:

Trẻ sinh non, nhất là trẻ sinh rất non hoặc có tiền sử bệnh hô hấp sau sinh.
Trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh có ảnh hưởng đáng kể đến tuần hoàn, hoặc có bệnh phổi mạn tính, đặc biệt là bệnh phổi mạn liên quan đến sinh non.
Trẻ suy giảm miễn dịch do bệnh lý hoặc đang sử dụng một số phương pháp điều trị làm suy giảm miễn dịch.
Trẻ còn rất nhỏ, nhất là trẻ dưới 6 tháng tuổi.
Ở những trẻ này, RSV có thể gây khó thở, giảm oxy máu, mất nước do bú kém và làm nặng thêm bệnh nền. Cha mẹ cần đưa trẻ đi khám sớm khi có biểu hiện bất thường, không chờ đến khi trẻ khó thở rõ rệt mới tìm kiếm sự trợ giúp y tế.

Ngay cả trẻ khỏe mạnh trước đó cũng cần được theo dõi cẩn thận. Khi trẻ sốt, ho, sổ mũi hoặc bú kém, cha mẹ nên liên hệ cơ sở y tế để được tư vấn, thăm khám tùy theo tuổi và triệu chứng. Trẻ dưới 3 tháng tuổi có nhiệt độ từ 38°C trở lên cần được đánh giá y tế khẩn trương.

Khi trẻ có biểu hiện ho, sốt không hạ cần tới cơ sở y tế để khám và được tư vấn. Ảnh: CB

3. Chăm sóc trẻ nhiễm RSV tại nhà đúng cách

Với trẻ được bác sĩ đánh giá có thể theo dõi ngoại trú, cha mẹ cần thực hiện các biện pháp chăm sóc phù hợp.

Hạ sốt đúng cách: Khi trẻ sốt và khó chịu, có thể sử dụng paracetamol theo liều tính theo cân nặng và hướng dẫn của nhân viên y tế. Liều thường dùng là 10–15 mg/kg/lần, các lần cách nhau ít nhất 4-6 giờ và không vượt quá liều tối đa trong ngày theo hướng dẫn. Không tự ý phối hợp nhiều thuốc có cùng hoạt chất hoặc dùng aspirin cho trẻ. Cho trẻ mặc quần áo thoáng, tránh ủ quá kín; không chườm đá hoặc lau người bằng cồn.
Bù đủ dịch và duy trì dinh dưỡng: Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, có thể chia thành nhiều cữ nhỏ nếu trẻ dễ mệt khi bú. Với trẻ lớn, khuyến khích uống đủ nước và ăn thức ăn mềm, dễ nuốt, phù hợp với độ tuổi. Dung dịch oresol chỉ nên sử dụng khi có chỉ định hoặc hướng dẫn phù hợp, pha đúng lượng nước ghi trên bao bì. Theo dõi lượng nước tiểu, tình trạng môi miệng và khả năng ăn, bú của trẻ để phát hiện dấu hiệu mất nước.
Vệ sinh mũi và môi trường sống: Có thể sử dụng nước muối sinh lý phù hợp để làm sạch dịch mũi, giúp trẻ dễ thở và bú tốt hơn. Giữ phòng ở thông thoáng, tránh khói thuốc lá, khói bếp và các chất gây kích ứng đường hô hấp. Không tự ý cho trẻ dùng kháng sinh, thuốc kháng viêm, thuốc ho hoặc thuốc nhỏ mũi co mạch khi chưa có chỉ định.

RSV là virus nên kháng sinh không có tác dụng điều trị trực tiếp. Thuốc kháng sinh chỉ được sử dụng khi bác sĩ xác định hoặc nghi ngờ có nhiễm khuẩn cần điều trị. Cha mẹ cần cho trẻ dùng thuốc theo đơn, tái khám đúng hẹn và không tự ý ngừng hoặc thay đổi phác đồ.

4. Dấu hiệu cảnh báo cần đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay

Cha mẹ cần đưa trẻ đi khám ngay khi xuất hiện một trong các dấu hiệu sau:

Trẻ thở nhanh, thở gắng sức, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi hoặc có cơn ngừng thở.
Môi, lưỡi hoặc da tím tái.
Trẻ bú rất kém, bỏ bú, không uống được hoặc có dấu hiệu mất nước như tiểu ít rõ rệt.
Trẻ li bì, khó đánh thức, phản ứng kém hoặc co giật.
Trẻ sốt kèm tình trạng toàn thân xấu đi hoặc có biểu hiện bất thường khiến cha mẹ lo ngại.
Nếu trẻ tím tái, ngừng thở, khó thở nghiêm trọng hoặc khó đánh thức, cần gọi cấp cứu hoặc đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức.

5. Chủ động phòng ngừa lây nhiễm RSV

Để giảm nguy cơ lây nhiễm, người chăm sóc cần rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi tiếp xúc với trẻ; vệ sinh thường xuyên đồ chơi, bề mặt hay chạm vào và các vật dụng ăn uống của trẻ. Hạn chế đưa trẻ nhỏ đến nơi đông người khi không cần thiết, tránh tiếp xúc gần với người đang ho, sổ mũi hoặc có triệu chứng nhiễm trùng hô hấp. Tuyệt đối không hút thuốc trong nhà hoặc gần trẻ.

Dinh dưỡng đầy đủ, bú mẹ nếu có thể và giữ môi trường sống sạch, thông thoáng góp phần bảo vệ sức khỏe đường hô hấp. Với trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao, cha mẹ nên trao đổi với bác sĩ về các biện pháp dự phòng RSV phù hợp với độ tuổi, tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp cận tại địa phương.

Điều quan trọng là cha mẹ cần bình tĩnh nhưng không chủ quan khi trẻ nhiễm RSV. Phần lớn trường hợp có thể hồi phục với chăm sóc hỗ trợ, song việc theo dõi sát nhịp thở, khả năng ăn bú, lượng nước tiểu và trạng thái tỉnh táo sẽ giúp phát hiện sớm dấu hiệu trở nặng, đưa trẻ đi khám đúng thời điểm và hạn chế nguy cơ biến chứng.

BS. Nguyễn Quốc Thanh

TIN LIÊN QUAN




































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ