🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Việt Nam đầu tư 10.000 tỷ đồng xây hạ tầng nghiên cứu công nghệ chiến lược

2 giờ trước
Việt Nam dự kiến đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng đến năm 2030 để phát triển 8 phòng thí nghiệm trọng điểm và 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia, hướng tới làm chủ ít nhất 10 công nghệ lõi phục vụ các lĩnh vực chiến lược.

Khoản đầu tư tương đương khoảng 383,6 triệu USD được công bố tại hội thảo về kết nối hệ sinh thái đổi mới công nghệ, phát triển hạ tầng nghiên cứu ngày 20/8.
Theo kế hoạch, mỗi phòng thí nghiệm trọng điểm được dự kiến đầu tư khoảng 500 tỷ đồng, trong khi mỗi trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm có mức đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng.
Đây là các con số khái toán và có thể được điều chỉnh theo đề xuất cụ thể của các bộ, ngành và tổ chức.

UAV nằm trong danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Ảnh: VGP

Từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm công nghệ chiến lược

Điểm đáng chú ý của kế hoạch không nằm đơn thuần ở quy mô vốn, mà ở cách Việt Nam định hình lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng dùng chung và gắn nghiên cứu với thương mại hóa công nghệ.

Theo Đề án được phê duyệt tại Quyết định 1483/QĐ-TTg ngày 4/8/2026, hệ thống mới sẽ được xây dựng hiện đại, đồng bộ, có khả năng kết nối và khai thác dùng chung trên phạm vi cả nước. Mục tiêu là hình thành năng lực quốc gia từ nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, đánh giá sự phù hợp đến sản xuất thử và đưa sản phẩm công nghệ chiến lược ra thị trường.

Đây là một mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển công nghệ. Một kết quả nghiên cứu dù có giá trị khoa học nhưng nếu thiếu thiết bị thử nghiệm, đo lường, kiểm định và khả năng sản xuất thử sẽ rất khó chuyển thành sản phẩm thương mại.

Thực tế khảo sát của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy khoảng cách này vẫn đáng kể. Trong 5 năm, 113 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm được khảo sát đã công bố 5.508 bài báo khoa học nhưng chỉ tạo ra 390 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, đồng thời ký 622 hợp đồng chuyển giao công nghệ. 

Những con số này cho thấy thách thức không chỉ là tạo ra tri thức, mà còn là biến tri thức thành công nghệ có khả năng ứng dụng và cạnh tranh trên thị trường.

8 phòng thí nghiệm tập trung vào những công nghệ nào?

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.

Các phòng thí nghiệm sẽ tập trung vào những nhóm công nghệ được xem là có ý nghĩa chiến lược, gồm công nghệ số; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; an ninh mạng và công nghệ lượng tử; biển, đại dương và lòng đất; hàng không và vũ trụ. 

Danh mục này cho thấy định hướng đầu tư không chỉ phục vụ một ngành riêng lẻ. Đây đều là những lĩnh vực có khả năng tạo ra tác động lan tỏa tới nhiều ngành kinh tế, từ sản xuất công nghiệp, viễn thông, y tế, năng lượng đến quốc phòng, giao thông và quản lý tài nguyên.

Song song với hệ thống phòng thí nghiệm, Việt Nam sẽ hình thành tối thiểu 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia tập trung vào các lĩnh vực gồm thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Nếu phòng thí nghiệm là nơi tạo ra và hoàn thiện công nghệ, các trung tâm thử nghiệm sẽ đóng vai trò gần hơn với giai đoạn đưa công nghệ ra thực tế: kiểm tra, đánh giá, sản xuất thử và hỗ trợ quá trình hình thành sản phẩm.

MỤC TIÊU LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ

Một trong những mục tiêu đáng chú ý nhất của Đề án là đến năm 2030, Việt Nam làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi trực tiếp phục vụ các sản phẩm công nghệ chiến lược và giải quyết những bài toán lớn của quốc gia. 

Để đạt mục tiêu này, hệ thống phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu không được vận hành như những cơ sở nghiên cứu độc lập. Theo kế hoạch, mỗi trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phải thiết lập, duy trì liên kết chặt chẽ với ít nhất một hệ sinh thái hoặc cụm đổi mới sáng tạo, trong đó có viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. 

Cách tiếp cận này hướng tới giải quyết một điểm nghẽn quen thuộc của hoạt động khoa học - công nghệ: nghiên cứu ở một nơi, doanh nghiệp ở một nơi và thị trường ở một nơi khác.

Khi hạ tầng nghiên cứu được chia sẻ, doanh nghiệp có thể tiếp cận thiết bị và năng lực thử nghiệm mà không nhất thiết phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống đắt đỏ. Ngược lại, các viện nghiên cứu và trường đại học có thêm điều kiện đưa kết quả nghiên cứu vào quy trình thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và chuyển giao.

Đây cũng là lý do khoản đầu tư 10.000 tỷ đồng cần được nhìn như một khoản đầu tư vào năng lực công nghệ quốc gia, thay vì chỉ là chi phí xây dựng thêm các phòng thí nghiệm.

Với mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi vào năm 2030, thước đo cuối cùng của khoản đầu tư này vì thế sẽ không nằm ở số phòng thí nghiệm được xây dựng, mà ở số công nghệ được làm chủ, số sản phẩm được tạo ra và khả năng biến nghiên cứu khoa học thành năng lực cạnh tranh thực tế của nền kinh tế.

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ

Đỗ Tho

TIN LIÊN QUAN
































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ