🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ ít nhất 10 công nghệ lõi

1 giờ trước
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ ít nhất 10 công nghệ lõi, đồng thời đưa vào vận hành 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 4 trung tâm nghiên cứu.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành ít nhất 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực ưu tiên gồm sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến...Ảnh minh họa: VGP.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1483/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược".

Theo đề án, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành ít nhất 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực ưu tiên gồm công nghệ số; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; an ninh mạng và lượng tử; biển, đại dương và lòng đất; hàng không và vũ trụ.

Đồng thời, đề án đặt mục tiêu hình thành ít nhất 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia tập trung vào các lĩnh vực thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Đề án đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ trực tiếp phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược và giải quyết các bài toán lớn của quốc gia. Bên cạnh đó, số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ đối với công nghệ lõi, công nghệ chiến lược được kỳ vọng tăng trưởng bình quân ít nhất 18% mỗi năm, tính từ năm thứ ba sau khi các trung tâm và phòng thí nghiệm đi vào vận hành chính thức.

Một mục tiêu quan trọng khác là thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; đồng thời hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp khoa học và công nghệ có khả năng phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Hình thành và kết nối giữa mỗi trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với ít nhất một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoặc cụm liên kết viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước; bảo đảm kết quả nghiên cứu, thử nghiệm gắn với nhu cầu thị trường, quốc phòng, an ninh.

Đến năm 2035, kết nối với các mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và quốc tế; có một số trung tâm thử nghiệm, phòng thí nghiệm đạt trình độ hàng đầu trong khu vực về lĩnh vực công nghệ chiến lược. Thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa, hỗ trợ doanh nghiệp và lan tỏa công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

6 nhiệm vụ, giải pháp

Đề án đưa ra 6 nhiệm vụ, giải pháp gồm xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý, vận hành; đổi mới cơ chế đầu tư về tài chính; quản trị, tổ chức vận hành và khai thác dùng chung; phát triển nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế; giám sát, đánh giá hệ thống.

Về xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý, vận hành, đề án yêu cầu ban hành tiêu chí lựa chọn các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược, hoàn thành trong tháng 10/2026.

Các cơ quan liên quan phải xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả định lượng để giám sát, đánh giá kết quả đầu ra của hệ thống; ban hành quy định về hoạt động và cơ chế vận hành dùng chung đối với các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; hoàn thành quý 1/2027.

Đề án cũng yêu cầu rà soát, hoàn thiện các quy định về tổ chức, mô hình quản trị, cơ chế thành lập mới, tổ chức lại, giao quản lý và vận hành hệ thống. Xây dựng cơ chế cho phép các trung tâm, phòng thí nghiệm sử dụng nguồn thu hợp pháp từ hoạt động dịch vụ để tái đầu tư và chi cho các khoản hợp lý theo quy định; đồng thời ban hành cơ chế tuyển dụng và trả lương theo thỏa thuận đối với người lao động cơ hữu và chuyên gia, gắn với vị trí việc làm, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện.

Về đổi mới cơ chế đầu tư và tài chính, đề án yêu cầu thực hiện đầu tư theo vòng đời, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng, trang thiết bị, nguồn nhân lực và điều kiện quản lý, vận hành. Việc lựa chọn, nâng cấp hoặc đầu tư mới các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phải căn cứ vào yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược, nhu cầu thực tế, khoảng trống năng lực, khả năng khai thác dùng chung và cam kết về kết quả đầu ra. Chỉ đầu tư mới khi hạ tầng hiện có không thể đáp ứng thông qua nâng cấp, kết nối, chia sẻ, khai thác dùng chung hoặc thuê dịch vụ.

Huy động, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác; áp dụng cơ chế đồng đầu tư, phương thức đối tác công tư khi phù hợp và huy động doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp dẫn dắt ngành tham gia đầu tư, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, khai thác kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, nguồn thu hợp pháp từ hoạt động của hệ thống sẽ được sử dụng để phục vụ công tác vận hành, bảo trì, nâng cấp và tái đầu tư theo quy định. Đặt hàng hoặc tài trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, thử nghiệm, đánh giá công nghệ mới cho các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia có năng lực phù hợp.

Quyết định số 1483/QĐ-TTg có hiệu lực kể từ ngày 4/8/2026.

Hà Anh

Theo Cổng TTĐT Chính phủ

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ