🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Dữ liệu và AI tạo giá trị khi con người làm chủ

1 giờ trước
Dữ liệu tạo nền tảng, AI mở ra những năng lực mới, nhưng con người mới là yếu tố quyết định công nghệ có thực sự tạo ra năng suất và giá trị hay không. Trong hành trình chuyển AI thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cần đồng thời làm chủ dữ liệu, phát triển công nghệ và xây dựng nguồn nhân lực đủ năng lực ứng dụng AI.

Từ “kho báu” dữ liệu đến lợi thế cạnh tranh

Việt Nam đang sở hữu nguồn dữ liệu ngày càng lớn từ dân cư, doanh nghiệp, thương mại, giao thông, y tế, giáo dục đến các hoạt động trên môi trường số. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuẩn hóa, kết nối, phân tích và chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ hoặc những quyết định tốt hơn.

Ảnh minh họa.

Tại Hội thảo “Chiến lược AI và Kiến trúc dữ liệu quốc gia, tổ chức và doanh nghiệp” diễn ra ngày 10/9/2025, nhiều chuyên gia nhận định AI và dữ liệu không còn là câu chuyện riêng của ngành công nghệ mà đã trở thành yếu tố gắn trực tiếp với sức cạnh tranh và vị thế quốc gia.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia, cho rằng những quốc gia có khả năng thu thập, xử lý và khai thác dữ liệu hiệu quả sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Ông đồng thời cảnh báo nguy cơ “thuộc địa hóa dữ liệu” khi một phần lớn dữ liệu người dùng được lưu trữ và khai thác trên các nền tảng nước ngoài.

Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở việc dữ liệu được lưu trữ ở đâu, mà quan trọng hơn là ai kiểm soát và tạo ra giá trị từ dữ liệu. Nếu dữ liệu được tạo ra tại Việt Nam nhưng phần lớn giá trị gia tăng lại hình thành ở bên ngoài, nền kinh tế có nguy cơ chỉ cung cấp “đầu vào” cho chuỗi giá trị số.

Ngược lại, khi dữ liệu được quản trị tốt và kết hợp với AI, Việt Nam có thể tạo ra những năng lực mới. Trong sản xuất, AI giúp dự báo nhu cầu, tối ưu dây chuyền và giảm chi phí. Trong logistics, AI hỗ trợ tối ưu hành trình, kho bãi và phân bổ nguồn lực. Trong tài chính, công nghệ có thể hỗ trợ đánh giá rủi ro, phát hiện giao dịch bất thường. Trong y tế, giáo dục và dịch vụ công, AI mở ra khả năng cá nhân hóa và nâng cao chất lượng phục vụ.

Theo PGS.TS Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện Công nghệ và Giáo dục Trí tuệ mới tạo sinh (IGNITE), những quốc gia nắm bắt được dữ liệu - một tài nguyên và tư liệu sản xuất quan trọng của nền kinh tế số - sẽ có khả năng bứt phá, trong khi những quốc gia bỏ lỡ cơ hội sẽ đối mặt nguy cơ tụt lại phía sau.

Từ đó, cơ hội của Việt Nam không chỉ nằm ở việc sử dụng các mô hình AI do nước ngoài phát triển, mà ở khả năng từng bước làm chủ dữ liệu, phát triển công nghệ phù hợp với nhu cầu trong nước và đưa AI vào những ngành có khả năng tạo ra giá trị lớn.

Con người là nhân tố quyết định

AI có thể tạo ra năng suất mới, nhưng chính con người quyết định công nghệ được sử dụng để giải quyết vấn đề gì và tạo ra giá trị nào. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam không chỉ nằm ở số lượng mô hình AI, hạ tầng tính toán hay dữ liệu, mà trước hết ở khả năng của con người trong việc làm chủ và ứng dụng công nghệ.

Về nội dung này, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương từng chia sẻ AI không thể phát triển bền vững nếu thiếu trách nhiệm, đạo đức và định hướng nhân văn; công nghệ là công cụ, còn con người mới là mục tiêu và nhân tố quyết định.

Theo GS. TS Nguyễn Xuân Thắng, AI không thể phát triển một cách bền vững nếu thiếu đi yếu tố trách nhiệm, đạo đức và một định hướng nhân văn rõ ràng. Công nghệ là công cụ, con người mới là mục tiêu, là nhân tố quyết định; bởi ngay cả khi sở hữu sức mạnh "vô hạn" như nhiều người quan niệm thì AI vẫn là sản phẩm do con người sáng tạo ra.

Ảnh minh hoạ.

Bởi vậy, bài toán nhân lực AI cần được nhìn rộng hơn việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia lập trình hay nghiên cứu mô hình. Việt Nam cần đồng thời phát triển nhân lực AI chuyên sâu và lực lượng lao động có khả năng ứng dụng AI trong từng ngành, từng lĩnh vực.

Thực tế, Việt Nam đang đặt mục tiêu đưa năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, cán bộ quản lý và quản trị. Định hướng này đang được cụ thể hóa bằng Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035, được phê duyệt tại Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 phổ cập kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng AI an toàn, hiệu quả cho người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị. Trong đó, 80% học sinh phổ thông được học AI, 100% người học giáo dục đại học được trang bị kiến thức, kỹ năng AI và 80% người học giáo dục nghề nghiệp được học AI.

Đáng chú ý, đây không chỉ là kế hoạch đào tạo chuyên gia công nghệ mà hướng tới một hệ sinh thái nhân lực AI. Theo lộ trình, đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu có ít nhất 10 trung tâm đào tạo, nghiên cứu AI, trong đó 5-7 trung tâm đạt trình độ khu vực và quốc tế; 25 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm về AI, 35 cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo AI và 35 phòng thí nghiệm AI hiện đại.

Theo lộ trình của Chương trình, Việt Nam cũng sẽ xây dựng Khung năng lực AI quốc gia, dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2027, nhằm xác định các tiêu chí năng lực phù hợp cho từng nhóm đối tượng, từ người học đến người dạy. Đồng thời, các cơ sở giáo dục đại học sẽ được lựa chọn làm đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về AI, gắn với mô hình hợp tác doanh nghiệp.

Thước đo quan trọng của năng lực AI quốc gia vì thế không chỉ là Việt Nam có bao nhiêu mô hình AI, mà là AI đang giúp bao nhiêu người lao động làm việc hiệu quả hơn, bao nhiêu doanh nghiệp tạo ra giá trị mới và bao nhiêu ngành kinh tế nâng được năng suất. Khi AI được chuyển hóa thành năng suất ở quy mô toàn nền kinh tế, công nghệ mới thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Hằng Phạm

TIN LIÊN QUAN













Home Icon VỀ TRANG CHỦ