🔍
Chuyên mục: Thời sự

Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân hiện nay - Bài 2: Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia

8 giờ trước
Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu 4 bước chuyển chiến lược trong tổ chức thực hiện đường lối phát triển đất nước. Trong đó, bước chuyển thứ 2 tập trung vào một vấn đề có ý nghĩa chiến lược: 'Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia'. Đối với quốc phòng, bước chuyển này có ý nghĩa đặc biệt, bởi sức mạnh Quân đội nhân dân không chỉ được tạo nên từ ngân sách quốc phòng, vũ khí, trang bị mà còn từ tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, con người, đối ngoại và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, cần quản trị, kết nối và phát huy hiệu quả các nguồn lực để tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc.

Quản trị thống nhất không gian phát triển gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Điểm cốt lõi của bước chuyển thứ 2 là thay đổi cách nhìn về không gian phát triển. Không gian quốc gia không phải là phép cộng cơ học của các địa phương, ngành, lĩnh vực mà là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các yếu tố có quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Một tuyến giao thông, cảng biển hay khu công nghiệp chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối đồng bộ với hạ tầng, nguồn nhân lực và thị trường. Vì vậy, phát triển hiện đại đòi hỏi vượt qua tư duy cục bộ, chia cắt để quản trị các nguồn lực theo chuỗi liên kết và không gian chiến lược.

Hệ thống Tên lửa Trường Sơn - niềm tự hào của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Ảnh: qdnd.vn

Từ góc độ quốc phòng, nhận thức này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không gian quốc phòng không tách rời không gian kinh tế - xã hội. Hệ thống giao thông, cảng biển, sân bay, hạ tầng viễn thông hay đô thị đều có thể đồng thời phục vụ phát triển kinh tế và quốc phòng nếu được quy hoạch, xây dựng phù hợp. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải gắn chặt với quy hoạch phát triển đất nước; quy hoạch kinh tế - xã hội, xây dựng tiềm lực quốc phòng và phát triển kết cấu hạ tầng đều phải tính đến yêu cầu quốc phòng, an ninh. Đây chính là sự cụ thể hóa tư duy quản trị thống nhất không gian phát triển trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng.

Bước chuyển thứ 2 không chỉ nói về không gian mà còn đặt ra yêu cầu phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với xây dựng Quân đội. Nguồn lực quốc phòng trước hết là nguồn lực vật chất nhưng không chỉ có vật chất. Đó còn là nguồn lực con người, khoa học - công nghệ, công nghiệp quốc phòng, cơ sở hạ tầng, tài chính, dữ liệu, trình độ quản trị, sức mạnh chính trị - tinh thần và sức mạnh đối ngoại của đất nước.

Phát huy nguồn lực quốc gia thành sức mạnh quốc phòng

Trong điều kiện nguồn lực có hạn, yêu cầu quan trọng không phải huy động thật nhiều mà là sử dụng đúng, hiệu quả và tạo ra năng lực chiến đấu cao nhất. Điều này đòi hỏi đổi mới tư duy đầu tư cho quốc phòng, chuyển từ chú trọng số lượng vũ khí, trang bị sang hiệu quả sử dụng nguồn lực. Một hệ thống vũ khí hiện đại chỉ phát huy sức mạnh khi có con người làm chủ, bảo đảm kỹ thuật, dữ liệu và hệ thống chỉ huy phù hợp. Vì vậy, cần quản trị đồng bộ các nguồn lực về con người - tổ chức - vũ khí, trang bị - khoa học, công nghệ - hậu cần, kỹ thuật - thông tin, dữ liệu - cơ sở hạ tầng để tạo sức mạnh tổng hợp.

Trong chiến tranh hiện đại, khoa học - công nghệ trở thành nguồn lực chiến lược, với những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ không người lái, tác chiến điện tử, không gian mạng và tự động hóa đang làm thay đổi phương thức tác chiến. Vì vậy, xây dựng Quân đội hiện đại phải gắn với huy động, kết nối và phát huy nguồn lực khoa học - công nghệ của quốc gia.

Đồng thời, cần nhận thức rõ xây dựng Quân đội gắn liền với xây dựng đất nước. Quân đội mạnh phải dựa trên nền kinh tế phát triển, chính trị ổn định, xã hội đồng thuận và khoa học - công nghệ tiên tiến; ngược lại, quốc phòng, an ninh vững chắc là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập và nâng cao đời sống nhân dân. Vì vậy, xây dựng Quân đội phải đặt trong tổng thể sức mạnh quốc gia.

Trước hết, cần tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp và mỗi người dân đều có thể đóng góp vào tiềm lực quốc phòng bằng những phương thức khác nhau.

Tiếp đó, phải nâng cao khả năng kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng. Những dự án hạ tầng chiến lược, các trung tâm công nghiệp, logistics, viễn thông, năng lượng, công nghệ cao… cần được tính toán cả về giá trị phát triển và khả năng đóng góp cho quốc phòng khi cần thiết. Đây là cách biến nguồn lực phát triển thành tiềm lực quốc phòng, đồng thời biến sức mạnh quốc phòng thành nền tảng bảo đảm cho phát triển bền vững.

Đổi mới quản trị để nâng cao sức mạnh tổng hợp của Quân đội

Cần phân biệt rõ “quản lý” và “quản trị”. Nếu quản lý chủ yếu là kiểm soát, phân bổ và thực hiện quy định, thì quản trị đòi hỏi xác định mục tiêu, kết nối nguồn lực, tối ưu hóa sử dụng và đánh giá hiệu quả. Xây dựng Quân đội hiện nay cần chuyển từ tư duy quản lý sang quản trị nguồn lực quốc phòng hiện đại.

Thứ nhất là quản trị tổ chức lực lượng. Quân đội “tinh, gọn, mạnh” phải tránh tư duy chia đều nguồn lực. Nơi nào có yêu cầu nhiệm vụ cao hơn, tính chất chiến lược hơn thì phải được ưu tiên nguồn lực tương xứng. Tổ chức lực lượng phải phù hợp với địa bàn, đối tượng tác chiến, phương thức chiến tranh và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.

Thứ hai quản trị nhân lực. Không chỉ cần đủ quân số mà quan trọng hơn là đúng người, đúng việc, đúng năng lực. Cần ưu tiên đào tạo, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên kỹ thuật có trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới.

Thứ ba là quản trị khoa học - công nghệ. Cần tập trung nguồn lực cho những công nghệ có tính nền tảng, có khả năng tạo bước đột phá về năng lực chỉ huy, trinh sát, cảnh giới, tác chiến và bảo đảm.

Thứ tư là quản trị tài chính, hậu cần, kỹ thuật theo hướng công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí. Mỗi nguồn lực được đầu tư phải tạo ra giá trị thực chất cho khả năng sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ.

Từ yêu cầu quản trị hiệu quả từng nguồn lực, một vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tạo lập sự liên kết giữa các nguồn lực để hình thành sức mạnh tổng hợp. Một bài học quan trọng từ bước chuyển thứ 2 là sức mạnh không chỉ nằm ở từng nguồn lực mà còn ở khả năng kết nối, phối hợp giữa các lực lượng. Trong Quân đội, đó là sự hiệp đồng giữa các quân chủng, binh chủng, lực lượng; giữa Quân đội với Công an, giữa quốc phòng với các lĩnh vực kinh tế, đối ngoại, khoa học - công nghệ.

Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Ảnh: qdnd.vn

Trong chiến tranh hiện đại, lực lượng hoạt động biệt lập khó tạo ưu thế quyết định. Vì vậy, xây dựng Quân đội hiện đại phải coi trọng hệ thống chỉ huy, thông tin, dữ liệu thống nhất, bảo đảm khả năng chia sẻ, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong mọi tình huống. Đây là biểu hiện cụ thể của quản trị thống nhất trong lĩnh vực quốc phòng.

Trong mọi nguồn lực, con người là yếu tố có khả năng tạo ra và nhân lên các nguồn lực khác. Một quân đội có vũ khí hiện đại nhưng thiếu người làm chủ công nghệ, cán bộ thiếu tư duy chiến lược thì chưa thể hiện đại thực chất. Vì vậy, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phải là đột phá chiến lược, với đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, năng lực dự báo, trình độ khoa học - công nghệ và khả năng tổ chức thực tiễn. Đồng thời, cần phát triển đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực mới, đổi mới giáo dục, đào tạo, huấn luyện để chuẩn bị cho yêu cầu chiến tranh tương lai.

Từ chỉ đạo về bước chuyển chiến lược thứ 2 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm, có thể thấy yêu cầu đối với xây dựng Quân đội hiện nay không chỉ là tiếp tục tăng cường tiềm lực mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức và sử dụng tiềm lực. Quản trị thống nhất không gian quốc phòng phải gắn với quản trị thống nhất không gian phát triển của đất nước. Xây dựng Quân đội phải đặt trong tổng thể sức mạnh quốc gia.

Phát triển công nghiệp quốc phòng phải gắn với nền công nghiệp quốc gia. Phát triển nhân lực quân sự phải gắn với nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước. Phát triển khoa học quân sự phải gắn với nền khoa học - công nghệ quốc gia. Đó cũng là cách khắc phục tư duy “quốc phòng là việc riêng của Quân đội”, chuyển mạnh sang nhận thức bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi không gian an ninh ngày càng mở rộng, nguồn lực ngày càng đa dạng và phương thức chiến tranh ngày càng phức tạp, Quân đội phải có khả năng kết nối và chuyển hóa mọi nguồn lực hợp pháp của quốc gia thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Quản trị thống nhất không gian để tạo thế; phát huy hiệu quả nguồn lực để tạo lực; kết nối các nguồn lực để tạo sức mạnh tổng hợp. Đó chính là tinh thần cốt lõi của bước chuyển chiến lược thứ 2.

Vận dụng đúng và sáng tạo tinh thần ấy vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có sức mạnh tổng hợp ngày càng cao, đủ khả năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ