Trung tướng Nguyễn Đức Sơn và ký ức những ngày lửa đạn
Tháng 3-1967, chưa tròn 18 tuổi, chàng thành niên Nguyễn Đức Sơn rời quê hương Phú Xuyên (Hà Nội) tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 (nay thuộc Quân đoàn 12). Những năm sau đó, ông lần lượt đi qua chiến trường Lào, Thành cổ Quảng Trị rồi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc…
Hàng chục năm đã trôi qua, nhưng mỗi khi trái gió trở trời, mảnh đạn còn nằm trong cơ thể vẫn khiến ông nhói đau. Những cơn đau ấy không kéo ông trở về với những vết thương của riêng mình mà đưa ký ức trở lại điểm cao Măng Mô, nơi người đồng đội thân thiết Nguyễn Văn Vịnh đã mãi mãi nằm lại vào một ngày cuối năm 1969.

Trung tướng Nguyễn Đức Sơn (bên trái) cùng đồng đội trong lần trở lại Cánh đồng Chum.
Theo hồi ức của vị tướng đã ở tuổi xưa nay hiếm, bấy giờ sau khi lực lượng Vàng Pao cùng quân đội Thái Lan, dưới sự chi viện của Mỹ, lấn chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào), Trung đoàn 165 được giao tham gia Chiến dịch 139 phản công giành lại địa bàn chiến lược. Sau khi giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, đơn vị tiếp tục nhận nhiệm vụ đánh các điểm cao vòng ngoài, trong đó có Măng Mô.
Sau khi trinh sát, chỉ huy đại đội của ông quyết định lựa chọn phương án "mật tập", bí mật tiếp cận mục tiêu theo lối đánh đặc công. Người trực tiếp đi trinh sát là trung đội trưởng, nhưng trước giờ nổ súng lại được giao làm nhiệm vụ phía sau. Khi ấy, ông là trung đội phó, được giao chỉ huy một mũi tiến công dù chưa trực tiếp nắm địa hình. Mũi tiến công của ông nhanh chóng đánh chiếm được hai lô cốt đầu cầu. Xạ thủ B40 Nguyễn Văn Vịnh (cùng tuổi và là đồng hương Phú Xuyên) bắn trúng miệng hầm địch, tạo điều kiện để đơn vị tràn lên. Nhưng các hướng khác không phát triển được, quân địch lập tức dồn hỏa lực về vị trí mũi tiến công của ông.

Trung tướng Nguyễn Đức Sơn (thứ hai từ phải sang) trong một chương trình gặp mặt truyền thống. Ảnh do nhân vật cung cấp
Do xác định đánh mật tập nên lượng đạn mang theo của mỗi chiến sĩ không nhiều, trong khi quân địch đông hơn nhiều so với dự tính ban đầu. Sau một thời gian cầm cự, đạn gần cạn, thương vong bắt đầu xuất hiện. Ông buộc phải ra lệnh cho anh em rút lui, còn mình cùng xạ thủ Nguyễn Văn Vịnh ở lại chặn địch. Đến khi hai quả đạn B40 cuối cùng rời nòng, Nguyễn Văn Vịnh bị đạn bắn trúng mặt.
Trung tướng Nguyễn Đức Sơn bồi hồi nhớ lại: "Lúc đó, Vịnh bị thương rất nặng. Tôi không thể để anh ấy nằm lại mà đi xuống một mình được. Tôi vừa kéo Vịnh, vừa đánh trả địch để rút lui. Đoạn đường từ trên xuống chân đồi chỉ hơn 100m nhưng phải mất hàng giờ đồng hồ. Vịnh mê man, thỉnh thoảng lại hét lên trong vô thức. Mỗi lần như vậy, địch lại tập trung ném lựu đạn, bắn xối xả về phía chúng tôi. Khi gặp được lực lượng đón phía dưới, cũng là lúc tôi lịm đi vì mệt và mất quá nhiều máu. Còn đồng đội Nguyễn Văn Vịnh đã không qua khỏi”.
Vậy mà chỉ ba tuần sau ngày bị thương đó, Nguyễn Đức Sơn rời bệnh xá để trở lại đội hình chiến đấu đơn vị. Sáu mảnh đạn găm trên người, trong đó có một mảnh nằm lại trong đầu, không ngăn người lính trẻ tiếp tục hành quân cùng đồng đội. Sau đó, ông tham gia Chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với cương vị Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165. Ba trận đánh đầu tiên, đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ. Đến trận cuối trên đỉnh Ta Can, chiến tranh một lần nữa để lại những mất mát không thể bù đắp, khi nhiều người đồng đội của ông không thể trở về. Đây cũng là nỗi niềm day dứt của ông và những người được trở về khi đã hơn nửa thế kỷ trôi qua vẫn chưa thể tìm thấy hài cốt và phần mộ của những người lính từng chung chiến hào với mình còn nằm lại chiến trường để đưa về quê hương!

Trung tướng Nguyễn Đức Sơn giới thiệu bức ảnh kỷ niệm hồi còn công tác.
Khoảng giữa năm 1972, đang chiến đấu ở Lào, Nguyễn Đức Sơn nhận được lệnh của trên điều gấp về Mặt trận Quảng Trị để bổ sung lực lượng, bởi chiến trường nơi đây đang diễn ra vô cùng khốc liệt. Đầu tháng 9-1972, Tiểu đoàn 5 của ông được bổ sung 52 tân binh. Với cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 5, ông được giao chỉ huy đưa toàn bộ lực lượng vượt sông Thạch Hãn để vào vị trí chiến đấu.
Đúng 1 giờ 10 phút ngày 4-9-1972, đoàn gồm 68 người, trong đó có 52 tân binh, bắt đầu bơi qua Thạch Hãn trong màn đêm. Họ vừa bơi, vừa lội, tranh thủ từng khoảng ngừng ngắn ngủi giữa các loạt pháo. Đến rạng sáng, toàn bộ quân số đã an toàn tới vị trí chốt giữ của Tiểu đoàn 5 ở khu vực đông nam Thành cổ Quảng Trị cho đến khi kết thúc 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ.
Trung tướng Nguyễn Đức Sơn kể, kết thúc tuần lễ cuối cùng ở Thành cổ, trước khi chia tay, mọi người hẹn với nhau, hòa bình rồi, hằng năm, nếu còn khỏe, cố gắng gặp nhau ở trung đoàn.
Lời hẹn ước đó tưởng đơn giản, nhưng thực tế chẳng dễ dàng. Bởi chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc cứ liên tiếp kéo dài. Mãi tới sau này, khi đều đã về hưu, ông và một số đồng đội còn khỏe mới thường xuyên giữ liên lạc. Mỗi lần gặp mặt, những người lính năm xưa lại nhắc về đêm vượt sông Thạch Hãn, nhắc về những đồng đội đã ngã xuống trong những ngày cùng nhau đi qua lửa đạn.
"Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được phát động thời gian qua thật vô cùng ý nghĩa. Là những cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến đấu, chúng tôi sẵn sàng cung cấp ký ức chiến trường và thông tin địa hình để giúp các đội quy tập có cơ sở tìm được vị trí đồng đội ngã xuống. Tôi tin bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ làm được ngày càng nhiều việc ý nghĩa, góp phần chia sẻ với các thân nhân, gia đình liệt sĩ", Trung tướng Nguyễn Đức Sơn chia sẻ.
TUẤN TÚ
1 giờ trước
27 phút trước
1 phút trước
28 phút trước
29 phút trước
1 giờ trước