TPBank dự kiến tăng vốn lên hơn 31.900 tỷ đồng, ai đang nắm cổ phần lớn?
TPBank phát hành cổ phiếu để trả cổ tức
Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank, HOSE: TPB) vừa ban hành Nghị quyết thông qua việc triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026 từ đợt phát hành cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu đã được ĐHĐCĐ thường niên 2026 thông qua ngày 24/04.
Theo kế hoạch, TPBank dự kiến phát hành hơn 416 triệu cổ phiếu mới, tương ứng tổng giá trị theo mệnh giá tối đa hơn 4.161 tỷ đồng. Tỷ lệ thực hiện quyền là 15%, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 15 cổ phiếu.

TPBank phát hành cổ phiếu để trả cổ tức
Nguồn vốn để thực hiện đợt phát hành được lấy từ phần lợi nhuận sau thuế chưa phân phối theo báo cáo tài chính năm 2025 đã kiểm toán. Tại ngày 31/12/2025, khoản lợi nhuận chưa phân phối của TPBank trên báo cáo tài chính hợp nhất đạt hơn 9.629 tỷ đồng, trong khi trên báo cáo tài chính riêng lẻ ở mức gần 9.523 tỷ đồng.
Thời điểm phát hành dự kiến trong năm 2026, sau khi ngân hàng hoàn tất các thủ tục và được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Hiện vốn điều lệ của TPBank đạt hơn 27.740 tỷ đồng, tương ứng gần 2,8 tỷ cổ phiếu đang lưu hành. Nếu đợt phát hành hoàn tất theo kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng thêm hơn 4.161 tỷ đồng, lên trên 31.901 tỷ đồng.
Phần vốn điều lệ tăng thêm dự kiến được TPBank phân bổ cho ba nhóm nhu cầu. Trong đó, ngân hàng sẽ dành nguồn lực cho đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống công nghệ thông tin và mở rộng mạng lưới hoạt động; bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ kinh doanh; đồng thời tăng vốn phục vụ hoạt động ngân hàng, phát triển dịch vụ và các mảng kinh doanh phi tín dụng.
Ai nắm cổ phần lớn tại TPBank?
Theo Báo cáo quản trị 6 tháng đầu năm 2026, TPBank hiện có 6 tổ chức được ghi nhận nắm giữ tỷ lệ từ 1% trở lên. Trong đó, CTCP Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI là cổ đông tổ chức lớn nhất với 164.549.061 cổ phiếu, tương ứng 5,93% vốn.
Tiếp đến là SBI Ven Holdings Pte. Ltd. sở hữu 125.150.227 cổ phiếu, tương ứng 4,51%; Công ty TNHH JB nắm 113.198.905 cổ phiếu, tương ứng 4,08%; Công ty TNHH SP sở hữu 113.252.223 cổ phiếu, tương ứng 4,08%; Công ty TNHH VG nắm 106.442.665 cổ phiếu, tương ứng 3,84%; và Công ty TNHH FD sở hữu 96.765.354 cổ phiếu, tương ứng 3,49%. Công ty Cổ phần FPT cũng được xác định là cổ đông lớn, tức sở hữu từ 5% vốn trở lên.
Ở nhóm cổ đông cá nhân sở hữu từ 1% vốn, ông Đỗ Anh Tú, em trai Chủ tịch HĐQT Đỗ Minh Phú, đang nắm 102.843.160 cổ phiếu, tương ứng 3,71%. Ông Lê Quang Tiến, Phó Chủ tịch HĐQT, sở hữu 100.063.616 cổ phiếu, tương ứng 3,61%.
Ông Đỗ Minh Quân, em ruột Thành viên HĐQT Đỗ Quỳnh Anh, sở hữu 92.651.498 cổ phiếu, tương ứng 3,34%. Bà Đỗ Quỳnh Anh nắm 85.148.823 cổ phiếu, tương ứng 3,07%.
Hai cá nhân khác là ông Đỗ Minh Đức, con trai Chủ tịch HĐQT Đỗ Minh Phú, và bà Đỗ Vũ Phương Anh, con gái Chủ tịch HĐQT Đỗ Minh Phú, cùng sở hữu 30.852.942 cổ phiếu, tương ứng 1,11% mỗi người.
Ngoài các cổ đông nêu trên, tài liệu còn ghi nhận nhiều thành viên nội bộ và người có liên quan sở hữu cổ phiếu TPBank nhưng tỷ lệ nắm giữ của từng cá nhân dưới 1%.
Hàng nghìn tỷ đồng giao dịch với các bên liên quan
Tại Báo cáo quản trị 6 tháng của TPB cũng cho thấy, TPBank phát sinh nhiều giao dịch với các cổ đông lớn và doanh nghiệp có liên quan. Với Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, ngân hàng ghi nhận các khoản tiền gửi không kỳ hạn, dư nợ cho vay, tiền trả trước cho thuê nhà, thu nhập từ lãi cho vay và chi phí thuê nhà. Tại ngày 30/6/2026, dư nợ vay của DOJI tại TPBank ở mức hơn 674 tỷ đồng.
Đối với Công ty Cổ phần FPT, các giao dịch chủ yếu gồm tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, với tổng giá trị hơn 3.562 tỷ đồng, cùng các khoản lãi phải trả, tiền thuê nhà và doanh thu từ một số hoạt động khác.
TPBank cũng ghi nhận các giao dịch với nhóm doanh nghiệp có chung thành viên quản lý chủ chốt. Các giao dịch bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, đầu tư vào giấy tờ có giá với tổng giá trị hơn 5.805 tỷ đồng; dư nợ cho vay và các khoản trả trước hơn 1.990 tỷ đồng, cùng các khoản thu nhập và chi phí liên quan đến lãi.
Với các công ty con, TPBank phát sinh các giao dịch liên quan đến góp vốn, mua cổ phần và tiền gửi. Trong đó, tại Công ty CP Quản lý quỹ Việt Cát, giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt hơn 122 tỷ đồng, bên cạnh các khoản tiền gửi.
Tại Công ty CP Chứng khoán Tiên Phong (TPS), giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt hơn 3.869 tỷ đồng. TPBank đồng thời duy trì hơn 809 tỷ đồng tiền gửi không kỳ hạn tại công ty này.
Đối với Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản TPBank, giá trị góp vốn, mua cổ phần được ghi nhận ở mức 100 tỷ đồng.
Trong nửa đầu năm 2026, HĐQT TPBank cũng ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến việc cấp tín dụng và điều chỉnh hạn mức tín dụng đối với các bên liên quan.
Các quyết định này bao gồm việc cấp tín dụng cho cá nhân là người có liên quan của cổ đông lớn, gồm ông Bùi Quang Ngọc và bà Nguyễn Tuyết Mai; điều chỉnh nội dung các khoản cấp tín dụng đối với Công ty CP Hải Phòng Invest và Công ty CP Phát triển Bất động sản Dragon, đều được xác định là bên liên quan của cổ đông lớn.
Ngoài ra, HĐQT TPBank còn thông qua việc gia hạn và sửa đổi hạn mức cấp tín dụng đối với Công ty CP Chứng khoán FPT.
Lợi nhuận vẫn tăng, nhưng chất lượng tín dụng cần theo dõi
Theo số liệu TPBank công bố sau 6 tháng, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.668 tỷ đồng, tăng khoảng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, tương đương khoảng 45% kế hoạch lợi nhuận 10.300 tỷ đồng cho cả năm 2026.
Đáng chú ý nhất trong bức tranh tài chính của TPBank sau nửa đầu năm là diễn biến các khoản nợ xấu.
Tại ngày 30/6/2026, tổng nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 của TPBank ở mức 6.278,5 tỷ đồng, tăng 59,43% so với cuối năm 2025.
Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 71,7%, từ khoảng 1.374 tỷ đồng lên 2.359,2 tỷ đồng. Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng từ 1.157,6 tỷ đồng lên 2.119,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 83%. Nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng từ 1.406,4 tỷ đồng lên 1.800,2 tỷ đồng. Nếu tính theo tổng dư nợ trước dự phòng 338.148 tỷ đồng, tổng ba nhóm nợ trên tương đương khoảng 1,86% dư nợ.
Theo báo cáo tài chính, dư nợ cho vay khách hàng trước dự phòng đạt 338.148 tỷ đồng tại ngày 30/6/2026, tăng hơn 32.331 tỷ đồng, tương đương 10,57%, so với cuối năm 2025. Trong cơ cấu dư nợ, nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 152.220 tỷ đồng, tương đương 45,02% tổng dư nợ. Cuối năm 2025, nhóm này có dư nợ 147.649 tỷ đồng, chiếm 48,28%.
Đáng chú ý, dư nợ cho vay hoạt động kinh doanh bất động sản tăng mạnh từ 32.255 tỷ đồng cuối năm 2025 lên 49.822 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026.
Như vậy, quy mô cho vay bất động sản tăng hơn 17.567 tỷ đồng, tương đương khoảng 54,5%. Tỷ trọng tín dụng bất động sản trong tổng dư nợ theo đó tăng từ 10,55% lên 14,73%.
Trong khi đó, dư nợ lĩnh vực bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 34.057 tỷ đồng, chiếm 10,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 27.739 tỷ đồng, chiếm 8,20%; xây dựng đạt 26.526 tỷ đồng, tương đương 7,84%.
Một điểm đáng chú ý khác nằm ở chênh lệch giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động vốn.
Tại ngày 30/6/2026, tiền gửi khách hàng của TPBank đạt khoảng 288.478 tỷ đồng, tăng 3,38% so với cuối năm 2025, thấp hơn đáng kể mức tăng của dư nợ cho vay.
Trong khi đó, tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác đạt hơn 143.343 tỷ đồng, tăng 27,9% so với cuối năm 2025.
Việc tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi khiến TPBank phải gia tăng sử dụng các nguồn vốn khác để đáp ứng nhu cầu mở rộng bảng cân đối. Điều này không nhất thiết tạo ra rủi ro thanh khoản, nhưng đặt yêu cầu cao hơn đối với quản trị nguồn vốn và chi phí huy động.
Nhị Hà
20 giờ trước
22 giờ trước
2 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
6 ngày trước
1 giờ trước
30 phút trước
5 giờ trước
1 giờ trước
7 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước