🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tìm lại dấu tích Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông - Bài 4: Ngôi đền của lòng dân (Tiếp theo và hết)

1 giờ trước
Dựng cờ đại nghĩa từ năm 1885 đến năm 1887 thì Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông thất bại. Chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn bị giặc Pháp bắt, chúng giải vị thủ lĩnh bất khuất ấy về giam ở nhà lao Vinh, nhà lao Hải Dương rồi sau đó quản thúc tại kinh thành Huế cho đến ngày cụ mất. Các vị văn thân, võ tướng dưới quyền Nghè Ôn đã phân tán lực lượng về nhiều địa phương, vừa tiếp tục chiến đấu vừa tránh bọn giặc truy lùng, tàn sát. Nhiều làng mạc ủng hộ cuộc khởi nghĩa bị đốt phá, nhiều người dân yêu nước đã bị chúng đưa lên đoạn đầu đài. Quê hương điêu tàn, tướng sĩ tan tác…

Thế nhưng, chỉ ít lâu sau, nhiều nghĩa binh đã bí mật trở về chốn cũ, nơi từng đặt đại bản doanh của khởi nghĩa Đồng Thông. Họ khai khẩn đất đai, dựng nhà lập trại, trồng khoai lúa sinh nhai và không ít người ẩn mình chờ cơ hội kháng Pháp, bởi lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm trong họ vẫn luôn cháy bỏng. Vùng Đồng Thông, Vũ Kỳ, Đồng Bản, Xóm Hố, Trại Quánh… dần trở nên đông đúc hơn.

Để có nơi thờ phụng, tưởng nhớ Chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn và các anh hùng nghĩa sĩ đã xả thân vì nước, những cựu nghĩa binh hay con cháu của họ đã dựng lên ngôi đền Nước Nhỉ ở xóm Trại Mắt (thuộc xã Quang Đồng, Nghệ An ngày nay). Đền được lập từ năm 1905, chỉ mười mấy năm sau ngày khởi nghĩa thất bại. Vật đổi sao dời, qua bao thăng trầm thời cuộc, ngôi đền cũ đã bị hoang phế từ hơn một thế kỷ trước…

Lần theo dấu vết Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông

Từ ý nguyện trao truyền của các bậc tiền bối, chuyện phục dựng ngôi đền có sự tham gia sâu sắc của Đặng Trọng Hộ, một người con của xóm Trại Mắt, nơi ngày xưa Lương giang Tướng công, TS Nguyễn Xuân Ôn đặt đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa. Từ thuở ấu thơ, chăn trâu, tát cá, Hộ cùng những đứa trẻ ở làng đã được các cụ cao niên nhắc nhở về những địa danh lịch sử trên quê hương anh như Cột Cờ, Đồng Thông, Vũ Kỳ, Xóm Hố, Lèn Cờ, Đồng Bản, Trại Quánh, Khe Son, Hố Sú…

Trước ngôi đền thờ TS Nguyễn Xuân Ôn và các nghĩa sĩ Khởi nghĩa Đồng Thông.

Ngay tên làng Trại Mắt của Hộ cũng chính là nơi mà cụ Nghè Ôn cho đặt điếm canh (con mắt) bảo vệ đại bản doanh, và khe núi mang tên Xanh Áo bên mép xóm chính là kho quân nhu của cuộc khởi nghĩa. Thuở nhỏ, Hộ cũng là người từng nhặt những mẻ sành, mẻ ngói của phế tích ngôi đền xưa để chơi trò đánh đáo cùng bạn bè trang lứa. Ngay từ ấu niên, Hộ đã ám ảnh với những lời đau đáu của các bậc cao niên trong làng: Không biết đến bao giờ mới dựng lại được ngôi đền Nước Nhỉ?!

Lớn lên, vào đại học rồi học lên cao, trở thành nhà nghiên cứu văn hóa, cái nỗi niềm ấy càng nhân lên trong lòng người học trò nghèo sinh ra từ xóm Trại Mắt ở vùng bán sơn địa Nghệ An, nơi ngày xưa TS Nguyễn Xuân Ôn từng thề quyết tử, đổ máu xương, quyết đánh đuổi ngoại xâm. Lúc học đến phần thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, những địa danh quê anh lại được cụ Nghè nhắc nhiều trong các tác phẩm thuở dựng cờ khởi nghĩa. Điều thôi thúc trong anh là phải góp sức cùng người dân quê nhà phục dựng lại ngôi đền để tưởng vọng tiền nhân, không thể để thế hệ mai sau lãng quên những tháng năm nước non trong cơn biến loạn, có những con người đã quyết xả thân vì đại nghĩa nước non.

Nghĩ là làm, dù đã rời làng hơn bốn thập niên, nhưng nhiều năm qua, mỗi lần về thăm quê là Hộ lại đi tìm kiếm các tư liệu, gặp gỡ các nhân chứng, làm dày sự hiểu biết để khẳng định, để "phục hồi" tất cả những sử liệu cần thiết cho việc phục dựng lại ngôi đền thiêng. Đặng Trọng Hộ nói với tôi: "Đi xa suốt bao nhiêu năm, tôi luôn trăn trở với câu hỏi: Chuyện gì đã xảy ra ở quê tôi sau khi Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông thất bại? Có sự liên hệ nào giữa ngôi đền hoang phế ở xóm tôi với cuộc khởi nghĩa của cụ Nghè Ôn?”.

Suốt nhiều tháng năm, ghi nhận từ các nhân chứng cao niên là hậu duệ của các cụ "tiền hiền" của làng như Phan Đức Độ, Nguyễn Văn Dực, Nguyễn Văn Vụ, Nguyễn Văn Duyệt (Bang Duyệt), Phan Đức Triều… cùng việc khảo cứu nhiều nguồn tư liệu khác, Hộ đã chứng minh đầy đủ về tính "chính danh", về "mục chủ" thực sự của ngôi đền Nước Nhỉ. Anh đủ tư liệu để khẳng định, đây chính là phế tích của ngôi đền gần một thế kỷ trước, là nơi thờ phụng Nguyễn Xuân Ôn và các nghĩa sĩ Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông năm xưa.

Dòng cảm xúc và những việc làm ý nghĩa của Hộ đồng cảm với suy nghĩ của Bí thư Chi bộ kiêm Xóm trưởng Thái Thị Nhàn cùng các ông Phan Văn Cầu, Thái Văn Hạnh, Nguyễn Đình Vinh, Đặng Trọng Vinh… và tất cả bà con dân làng Trại Mắt. Họ có chung suy nghĩ: Không phục dựng được đền Nước Nhỉ là hậu nhân có tội với tiền nhân, có tội với tướng sĩ Cuộc khởi nghĩa Đồng Thông đã đổ máu xương trên mảnh đất quê hương!

Nơi tưởng vọng Nghè Ôn và nghĩa sĩ

Thế rồi, chỉ trong vòng mấy tháng cuối năm 2025, người góp của, kẻ góp công, ngôi đền của lòng dân đã được phục dựng trên nền xưa hoang phế. Những miếng ngói, mẻ đá từ phế tích đền cũ được trân trọng lưu giữ làm chứng tích. Đặc biệt, gia đình nhà nghiên cứu Đặng Trọng Hộ đã mua và cung tiến 200m2 đất, gia đình ông Đặng Trọng Thiết cung tiến 120m2 đất để mở rộng không gian của đền. Tất cả người dân Trại Mắt, dù đang sống ở quê hay lập nghiệp xa quê, người ít kẻ nhiều, đều chung tay góp sức cho việc phục dựng ngôi đền Nước Nhỉ.

Các cháu thiếu nhi rước đất và nước lấy từ đại bản doanh cuộc khởi nghĩa năm xưa về thờ tại đền.

Nhà báo Phan Minh Đạo, một người bạn của Đặng Trọng Hộ đang sinh sống ở xứ Lâm Đồng đã rất kỳ công trong việc sưu tầm phiên bản Dụ và chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (sao từ bản gốc duy nhất đang lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 - Hà Nội) để cung tiến cho đền. Chúng tôi gọi đền Nước Nhỉ là ngôi đền của lòng dân là vậy.

Có mặt trong những ngày lễ hội khánh thành đền Nước Nhỉ, chúng tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc lấp lánh trong ánh mắt, trong lời nói của những người dân xóm núi Trại Mắt. Nông thôn mới là những điều giản dị, là những hình ảnh mà tôi được chứng kiến trong những ngày đầu đông se lạnh này ở vùng đất bán sơn địa Nghệ An, nơi vừa mới trải qua hai cơn bão lớn. Chính quyền và dân làng đã kết hợp sự kiện khánh thành đền với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân. Hai lễ hội nhập vào thành một hội, truyền thống và hiện đại hòa quyện trong một dòng cảm xúc.

Lòng dân hòa hợp, cộng cảm, không gian cộng đồng nghĩa tình, ấm áp. Trong vọng âm trống lễ từ sân đền, cả một chuỗi hoạt động văn nghệ - thể thao đã diễn ra rộn ràng xóm núi; nào là giải bóng chuyền mang tên “Đền Nước Nhỉ”, nào là đêm văn nghệ “cây nhà lá vườn” diễn tích tuồng về cuộc khởi nghĩa Đồng Thông, cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nghè Ôn.

Những ngày ở xóm Trại Mắt, tôi đã chứng kiến có cụ ông ở tuổi cửu tuần, từ ngày khởi công đền cho đến ngày khánh thành, ngày nào cũng chống gậy lên đền chiêm ngắm, chuyện trò từ sáng đến chiều. Có những người bỏ cả việc nhà để lo việc đền. Nhiều con cháu đi lập nghiệp xa quê, hẹn nhau cùng về hội đền và vừa bước chân về làng đã vội vã lên đền thắp hương tưởng vọng. Các cháu nhỏ chăm chú đọc những tài liệu về dụ, chiếu Cần Vương, về cuộc đời và sự nghiệp của TS Nguyễn Xuân Ôn, về những địa danh quê hương gắn với những chiến công trong lịch sử được trưng bày ở đền.

Tôi nhớ lời của chị Thái Thị Nhàn, Bí thư Chi bộ kiêm Xóm trưởng xóm Trại Mắt trong ngày khánh thành "ngôi đền của lòng dân": "Đền Nước Nhỉ là ngôi đền của cộng đồng, là ngôi đền của con dân nước Việt biết cúi đầu trước anh linh các bậc tiền nhân vì dân, vì nước. Đền là một thiết chế văn hóa cổ truyền trong dòng chảy văn hóa Việt Nam; là nơi kết nối cộng đồng trên nền tảng uống nước nhớ nguồn. Chúng tôi xem đây là điểm tựa, là không gian quý để giáo dục truyền thống yêu nước, để xây dựng quê hương theo nền văn hóa mới, vừa ấm no, hạnh phúc, vừa vững bền những hệ giá trị sâu sắc được kết tinh từ truyền thống quê hương…”.

Tưởng vọng Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và các nghĩa sĩ:

Bước ra từ cửa Khổng sân Trình, bậc sĩ phu chối bỏ vinh hoa, lập chí anh hùng đương đầu giặc dữ. Tấc lòng trung trinh yên dân trừ bạo, tụ hội bốn phương đại nghĩa dựng cờ. Xứ Diễn Châu luyện võ bình thơ. Nghiệp lớn bất thành, gieo cảm hứng đời sau đánh đuổi ngoại xâm, xây nền độc lập. Khí lộng trời cao, huyết hòa mạch đất, công đức Ngài sáng mãi với giang sơn.

Chỉ là người dân ấp dân lân, đoàn nghĩa binh không tiếc máu xương, xông pha sa trường diệt quân xâm lược. Một dạ thương nòi đáp đền nợ nước, bảo vệ xóm thôn, mảnh ruộng, ngôi nhà. Đất Yên Thành lửa khói can qua. Da ngựa bọc thây, truyền nghĩa khí cháu con nối mạch tiền nhân, dựng nghiệp quê hương. Đạo lý vuông tròn, lệ ứa hương thơm, hồn tử sĩ khỏa khuây cùng non nước.

UÔNG THÁI BIỂU

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ