🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thực thi hiệu quả Kết luận số 14-KL/TW để tăng khả năng ứng phó cú sốc năng lượng Bài cuối: Đột phá hạ tầng dự trữ để trở thành 'hub' năng lượng khu vực

4 giờ trước
Theo chuyên gia năng lượng PHAN XUÂN DƯƠNG, Việt Nam cần bước đột phá về hạ tầng dự trữ chiến lược để chuyển từ vị thế 'mua đâu dùng đó' sang 'chủ động điều tiết thị trường'; hướng tới trở thành 'hub' - trung tâm trung chuyển, lưu trữ và phân phối năng lượng của khu vực.

Thuế, phí nên giảm theo ngưỡng giá

- Thưa ông, Kết luận 14 định hướng sử dụng công cụ tài khóa, tiền tệ, quản lý giá để ổn định thị trường xăng dầu. Ông có khuyến nghị gì về cách triển khai gói công cụ này?

Ông Phan Xuân Dương. Ảnh: Quang Khánh

- Bộ Chính trị đã chỉ thị một gói công cụ tổng hợp, thách thức lớn nhất là phối hợp và liều lượng sử dụng. Nguyên tắc cốt lõi nên là: can thiệp có mục tiêu, linh hoạt theo kịch bản và dự phòng cho tương lai.

Cụ thể, cần ưu tiên bảo vệ nhóm dễ tổn thương và ngành trọng yếu như vận tải, logistics, ngư dân, sản xuất nông nghiệp và doanh nghiệp xuất khẩu.

Việc sử dụng Quỹ Bình ổn xăng dầu thời gian qua là điểm cộng. Giai đoạn đầu, giá cơ sở điều chỉnh theo giá nhập khẩu, khi có tín hiệu tổn thương doanh nghiệp, Chính phủ chi sử dụng Quỹ, giúp tăng sức chịu đựng cho nền kinh tế.

Trong tương lai, nếu Quỹ cạn, công cụ tài khóa cần được tính đến nhưng phải chọn lọc và theo tầng. Thuế, phí không nên giảm toàn bộ mà cần cơ chế giảm theo ngưỡng giá. Ví dụ: giá dầu cao hơn 90 USD/thùng thì giảm 10% thuế nhập khẩu; trên 110 USD/thùng thì giảm sâu hơn 30% thuế bảo vệ môi trường... Trường hợp dùng ngân sách, nên chuyển từ trợ giá toàn bộ sang trợ giá đúng đối tượng để tiết kiệm chi ngân sách và tránh trục lợi.

Đối với các biện pháp hỗ trợ lãi suất phải đúng mục tiêu, tức là áp dụng cho các ngành nghề thực sự bị tổn thương như doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu, vận tải, logistics. Ưu tiên bảo đảm thanh khoản ngoại tệ cho nhập khẩu.

Về chính sách giá, nên mềm dẻo, linh hoạt nhưng tránh áp giá trần dễ gây thiếu hàng do doanh nghiệp mất động lực nhập khẩu. Đồng thời, cần rút ngắn chu kỳ điều hành giá khi biến động mạnh và minh bạch cấu phần giá để tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Trong tương lai vẫn cần có các giải pháp dài hạn như đa dạng nguồn cung bằng các hợp đồng dài hạn có giá hedging (phòng vệ giá); tăng dự trữ tồn kho chiến lược. Đối với ngân sách, cần thiết kế phân tầng để kịp thời phản ứng thị trường tùy theo cấp độ.

Tựu trung, với ba mục tiêu là bảo vệ người dân, giữ chi phí doanh nghiệp, không cạn ngân sách thì cần ổn định giá có chọn lọc và giữ tiềm lực cho kịch bản xấu nhất.

Gõ "điểm nghẽn cấu trúc" để chống gian lận thương mại

- Bộ Chính trị chỉ đạo rất rõ việc siết chặt quản lý, chống găm hàng, gian lận thương mại. Tuy nhiên, doanh nghiệp bán lẻ lo ngại áp lực lớn nếu cơ quan quản lý không phân biệt rõ giữa “găm hàng trục lợi” với “kiệt quệ tài chính, đứt nguồn cung”. Ông nghĩ sao về điều này?

- Chỉ đạo của Bộ Chính trị là đúng và cần thiết. Nhưng thực tế, gian lận thường phát sinh từ các “điểm nghẽn cấu trúc” trong chuỗi cung ứng. Điểm nghẽn lớn nhất là cơ chế giá và chi phí không theo kịp thị trường. Khi chiết khấu bán lẻ co lại bằng 0, doanh nghiệp cuối chuỗi không có động lực bán, dẫn đến tìm cách găm hàng chờ giá hoặc lấy hàng ngoài luồng. Đây là "động cơ kinh tế", không chỉ là vấn đề đạo đức.

Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng nhiều tầng (đầu mối, phân phối, đại lý) gây thiếu minh bạch, tạo vùng xám cho bán chéo nguồn và gian lận hóa đơn. Quản lý chủ yếu theo hồ sơ báo cáo định kỳ (ex-post), trong khi gian lận xảy ra theo giờ nên phát hiện thường đã muộn. Sự phối hợp giữa các bộ ngành (Công Thương, Tài chính) dù liên tục nhưng vẫn mang tính vụ việc, chưa có đầu mối dữ liệu thống nhất.

Để thanh tra hiệu quả thực chất, cần giải quyết từ gốc rễ. Phải điều chỉnh cơ chế giá và chiết khấu bảo đảm doanh nghiệp bán lẻ có lợi nhuận tối thiểu hợp lý. Khi “làm đúng vẫn sống được” thì gian lận sẽ giảm mạnh. Song song đó, cần tăng chế tài đủ mạnh, lập tức rút giấy phép, cấm kinh doanh dài hạn để chi phí vi phạm cao hơn nhiều lợi ích đạt được.

Quan trọng nhất, cần số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Cần xây dựng hệ thống theo dõi nhập, xuất, tồn kho theo thời gian thực, tạo kết nối liên thông từ đầu mối, cây xăng đến cơ quan quản lý. Mỗi lít xăng đều có dấu vết số. Khi đó nếu có hiện tượng găm hàng, cơ quan quản lý sẽ thấy ngay bán sai nguồn để xử lý.

Lộ trình để trở thành “hub" năng lượng khu vực

- Kết luận 14 yêu cầu "sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn". Theo ông, một hệ thống cung ứng, dự trữ quốc gia mới cần được định hình ra sao?

- Đây là bước nâng cấp tư duy rất quan trọng: từ bảo đảm nguồn cung ngắn hạn sang xây dựng “lá chắn năng lượng” dài hạn, chuyển từ “mua đâu dùng đó” sang “chủ động điều tiết thị trường năng lượng”.

Muốn vậy, không chỉ cần tăng thêm bể chứa mà phải xây dựng một hệ thống dự trữ hiện đại, vận hành như một công cụ điều tiết vĩ mô. Hệ thống này cần có 4 chức năng. Một là, tăng khả năng chống sốc nguồn cung thông qua duy trì dự trữ đủ lớn, hướng tới mức 60 - 90 ngày nhập khẩu ròng theo thông lệ quốc tế. Hai là, ổn định giá, theo đó sẽ xuất kho khi giá tăng mạnh, nhập kho khi giá xuống thấp thay vì “nằm chết” trong bể chứa. Ba là, đưa năng lượng trở thành biến số điều hành vĩ mô thông qua phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ. Bốn là, hỗ trợ chuyển dịch năng lượng không chỉ xăng dầu, mà gồm LNG than, trong tương lai là hydrogen, ammonia.

- Việt Nam cần những bước đi đột phá nào về hạ tầng và cơ chế để hiện thực hóa lá chắn này, thưa ông?

- Chúng ta cần xây dựng các hệ thống kho dự trữ chiến lược tập trung lớn tại Bắc Bộ (gần cảng nước sâu), Nam Trung Bộ (Bình Thuận cũ) và Nam Bộ (ở các đảo ngoài khơi). Về cơ chế, Nhà nước không thể làm một mình mà cần huy động khu vực tư nhân (PPP), cho phép doanh nghiệp xây kho và tham gia dự trữ quốc gia với cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.

Tôi đề xuất cần theo lộ trình 3 giai đoạn. Ngắn hạn (1 - 2 năm): cần xây dựng chiến lược quốc gia với kịch bản rõ ràng, tăng dự trữ lên mức tối thiểu 30 - 45 ngày; thí điểm kho dự trữ tập trung. Trung hạn (3 - 5 năm): hình thành 2 - 3 trung tâm dự trữ lớn, vận hành theo cơ chế xoay vòng. Dài hạn (5 - 10 năm): dự trữ đạt chuẩn quốc tế 60 - 90 ngày và đưa Việt Nam trở thành "hub" - trung tâm trung chuyển, lưu trữ và phân phối năng lượng của khu vực.

Nếu không làm kịp, chúng ta sẽ luôn ở thế bị động trước các cú sốc giá, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng GDP và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ