Thách thức cho doanh nghiệp trước biến số lãi suất

Bài toán lãi suất được coi như yếu tố then chốt quyết định sức khỏe doanh nghiệp và khả năng phục hồi của toàn bộ nền kinh tế. Ảnh minh họa: Hoàng Anh
Lãi suất cao khiến cửa vay cho doanh nghiệp hẹp lại
Sau nhiều tháng liên tục điều chỉnh tăng, mặt bằng lãi suất huy động trong tháng 6/2026 đã có dấu hiệu chững lại. Theo khảo sát của Công ty Chứng khoán MBS đối với 16 ngân hàng, chỉ còn 6 ngân hàng tăng lãi suất, giảm so với 9 ngân hàng của tháng trước. Trong khi đó, có 4 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất từ 0,1-0,2 điểm phần trăm ở một số kỳ hạn.
Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao. Đến cuối tháng 6, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất đạt 8,8%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng lên tới 9%/năm. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 8,4%/năm, tăng 2,59 điểm phần trăm so với đầu năm.
Việc lãi suất huy động duy trì ở mức cao giúp người dân có khoản tiền nhàn rỗi hưởng mức sinh lời tốt hơn khi gửi tiết kiệm. Nhưng ở chiều ngược lại, lãi suất huy động cao cũng tạo áp lực lên chi phí vốn của các ngân hàng. Khi chi phí đầu vào tăng, dư địa giảm lãi suất cho vay bị thu hẹp, khiến các cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp.
Theo Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), dù lãi suất huy động đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng ngay từ những tháng đầu năm (từ 1-3%/năm ở các kỳ hạn từ 6 tháng đến trung hạn), song tăng trưởng huy động vẫn “hụt hơi” hơn 2 triệu tỷ đồng so với tăng trưởng cho vay trong 4 tháng đầu năm.
Điều này cho thấy thanh khoản hệ thống không còn dư dả như giai đoạn trước. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lãi suất để giữ chân dòng tiền gửi, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn lớn.
Cũng theo VDSC, đến cuối tháng 5/2026, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và huy động trên thị trường 1 đã vượt 2,5 triệu tỷ đồng, đưa tỷ lệ LDR lên khoảng 115%, cao hơn đáng kể so với mức 109% cuối năm 2025. Áp lực này khiến mặt bằng lãi suất khó giảm nhanh, dù định hướng điều hành vẫn là hỗ trợ tăng trưởng và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp.
Lưu ý rằng, khi Thông tư 08 /2026/TT-NHNN có hiệu lực, toàn bộ tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại trừ khỏi cách tính LDR, khiến tỷ lệ này tại các ngân hàng quốc doanh tăng lên, dẫn đến phải tái cơ cấu danh mục huy động, đẩy mạnh hút tiền gửi từ dân cư và kênh trái phiếu, từ đó tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động, nhất là kỳ hạn trung và dài hạn.
Chỉ tính riêng trong nửa cuối tháng 6 đã có 18 lô trái phiếu ngân hàng được phát hành thành công với tổng giá trị gần 20.000 tỷ đồng, nhiều lô có lợi suất trên 8%, thậm chí lên tới 9,6%/năm.

Điều này phản ánh chi phí huy động vốn của các ngân hàng vẫn ở mức cao, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay không còn nhiều như kỳ vọng.
Một lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất gạch chia sẻ, với mức lãi suất vay trung - dài hạn phổ biến từ 11 - 15%/năm, chi phí tài chính đã tăng gần gấp đôi so với giai đoạn trước khiến doanh nghiệp không còn dư địa để xoay xở. Không vay thì không có tiền để duy trì sản xuất, nhưng vay thì biên lợi nhuận bị bào mòn gần như hết.
Không chỉ doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp bất động sản, xây dựng - những lĩnh vực phụ thuộc lớn vào vốn vay - cũng chịu tác động nặng nề. Khi lãi suất cao, chi phí đầu vào tăng, giá thành sản phẩm bị đội lên, trong khi sức cầu thị trường suy yếu, khiến nhiều dự án rơi vào tình trạng đình trệ.
Ghi nhận của TheLEADER cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay mua nhà hiện tăng 2-3%/năm so với thời điểm đầu năm, dao động từ 9-14%/năm, thậm chí có nơi còn lên đến 15%/năm (cả với khối ngân hàng tư nhân và ngân hàng quốc doanh). Mức lãi suất này khiến nhiều người phải cân nhắc kỹ hơn về khả năng tài chính, đặc biệt là người mua nhà trong lĩnh vực bất động sản. Một số chủ đầu tư đã đưa ra các chính sách hỗ trợ như cố định lãi suất khoảng 7–8% trong hai năm đầu nhằm giảm áp lực ban đầu cho khách hàng.
Tuy nhiên, ghi nhận thực tế cho thấy, tâm lý thận trọng vẫn phổ biến khi nhiều nhà đầu tư lo ngại mặt bằng lãi suất có thể duy trì ở mức cao trong thời gian dài.
Số liệu mới nhất của One Housing cho thấy, thanh khoản thị trường bất động sản có dấu hiệu chậm lại trong nửa đầu năm nay. Tỷ lệ hấp thụ trung bình của các dự án sơ cấp đạt khoảng 50-60%, giảm mạnh so với mức trên 80% cùng kỳ năm trước.
Theo đánh giá của ông Trần Quang Trung, Giám đốc Phát triển kinh doanh OneHousing, mặc dù thanh khoản sụt giảm không đồng nghĩa với việc dòng tiền rút khỏi thị trường bởi người mua không mất đi nhu cầu sở hữu bất động sản mà họ đang thận trọng và chọn lọc hơn trong quá trình ra quyết định.

Khi chi phí vốn tăng, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc kỹ hơn trong quyết định đầu tư, ưu tiên tối ưu dòng tiền và hiệu quả hoạt động. Ảnh minh họa: Hoàng Anh
Vì sao khó hạ lãi suất?
Tại họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãnh đạo cơ quan này cho biết lãi suất huy động bình quân mới chỉ giảm 0,04%/năm, lãi suất cho vay bình quân giảm 0,07%/năm kể từ sau cuộc họp của NHNN với các ngân hàng thương mại (NHTM).
Mặc dù theo ghi nhận hiện nay, đã có những tín hiệu ổn định đã xuất hiện trên thị trường tiền gửi trong tháng 6 khi số lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất không còn nhiều như các tháng trước. Dù vậy, diễn biến này chưa đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất sẽ nhanh chóng đi xuống khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng vẫn có nơi lên tới 8,8%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng đạt khoảng 9%/năm.
Thông tư 25/2026 vừa được ban hành cho phép các ngân hàng thương mại bổ sung 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào hệ số dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), qua đó hỗ trợ thanh khoản và tăng tính an toàn của hệ thống, tuy nhiên, áp lực cân đối nguồn vốn với hệ thống ngân hàng đang rất lớn.
Bên cạnh đó, do độ trễ chính sách từ 3 đến 6 tháng, các ngân hàng cần thời gian để tiêu thụ hết lượng vốn giá cao đã huy động từ các kỳ hạn trước đó. Chi phí vốn bình quân chưa thể giảm ngay lập tức để áp dụng mức lãi vay thấp hơn cho thị trường. Áp lực tiếp theo đến từ hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng. Để đảm bảo an toàn hệ thống và có đủ nguồn lực trích lập dự phòng, các tổ chức tín dụng buộc phải duy trì biên độ an toàn, hạn chế tối đa việc hạ mạnh lãi suất đầu ra.
Cùng với đó, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục trì hoãn hạ lãi suất đã tạo áp lực lớn lên tỷ giá USD/VND, NHNN phải điều hành chính sách tiền tệ thận trọng. Nếu hạ lãi suất cho vay quá nhanh, dòng vốn có nguy cơ tháo chạy, gây mất ổn định tỷ giá và kích hoạt áp lực lạm phát.

Khi nhiều doanh nghiệp cùng chuyển sang trạng thái thận trọng, thu hẹp hoạt động, tác động lan rộng tới nền kinh tế là khó tránh và ảnh hưởng đến sản xuất, việc làm và sức mua trên thị trường. Ảnh minh họa: Hoàng Anh
Theo ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, mặt bằng lãi suất cao là điều bắt buộc nếu muốn duy trì chênh lệch lãi suất đủ lớn để hỗ trợ tỷ giá, đây chính là bài toán trung tâm của chính sách tiền tệ hiện nay. Ông Thành cho rằng nếu ưu tiên ổn định tỷ giá và hạn chế dòng vốn rút ra, mặt bằng lãi suất khó có thể giảm sâu. Ngược lại, nếu muốn hỗ trợ tăng trưởng bằng cách nới lỏng tiền tệ mạnh hơn, áp lực lên tỷ giá sẽ gia tăng.
Dẫu vậy, việc chi phí tài chính gia tăng có thể khiến quá trình phục hồi của doanh nghiệp diễn ra chậm hơn so với kỳ vọng. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp có xu hướng thận trọng hơn với kế hoạch vay vốn và mở rộng sản xuất, qua đó phần nào ảnh hưởng tới động lực tăng trưởng chung.
Trong công bố mới nhất về kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh với sự tham gia của hơn 6.000 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính, kết quả điều tra cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục cải thiện trong quý II/2026 và xu hướng lạc quan được duy trì sang quý III/2026.
Cụ thể, có 79,7% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý II/2026 tốt hơn hoặc ổn định so với quý I/2026 và chỉ có 20,3% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất kinh doanhgặp nhiều khó khăn hơn. Triển vọng quý III/2026 được đánh giá khả quan hơn khi có tới 83,4% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ cải thiện hoặc ổn định so với quý II/2026. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo khó khăn giảm xuống còn 16,6%.
Tuy vậy, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất gỗ, kim loại cho biết có những lo ngại với tình trạng lãi suất cao như hiện nay.
Nguyên nhân theo phân tích của các chuyên gia xuất phát từ việc đây là ngành có chu kỳ sản xuất dài, nhu cầu vốn lưu động lớn nên mặt bằng lãi suất cao khiến áp lực tài chính trở nên rõ nét hơn.
Không ít doanh nghiệp cho biết, dù đơn hàng đã có tín hiệu cải thiện so với giai đoạn trước, dòng tiền vẫn chưa thực sự thông suốt.
Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, logistics và chi phí tuân thủ tiêu chuẩn xuất khẩu đều gia tăng, trong khi khả năng tiếp cận vốn vay ưu đãi còn hạn chế. Điều này khiến doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ hơn trong các quyết định mở rộng sản xuất, đầu tư máy móc hoặc tích trữ nguyên liệu cho các đơn hàng mới.
Đối với ngành gỗ, áp lực càng lớn khi phần lớn doanh nghiệp phụ thuộc vào đơn hàng xuất khẩu, trong khi thị trường quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều biến động. Các yêu cầu ngày càng khắt khe về nguồn gốc nguyên liệu, phát thải carbon và tiêu chuẩn xanh buộc doanh nghiệp phải đầu tư thêm cho hệ thống quản trị, truy xuất và sản xuất sạch hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh lãi vay cao, những khoản đầu tư này dễ trở thành gánh nặng đối với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Tương tự, nhóm doanh nghiệp kim loại cũng chịu sức ép kép từ chi phí vốn và biến động giá đầu vào. Đây là lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn cho tồn kho, máy móc và dây chuyền sản xuất. Khi lãi suất chưa giảm đủ sâu, doanh nghiệp có xu hướng thận trọng hơn, ưu tiên duy trì hoạt động ổn định thay vì mở rộng công suất.
Do đó, dù bức tranh chung của ngành chế biến, chế tạo đang cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực, áp lực chi phí tài chính vẫn là một điểm nghẽn đáng chú ý. Nếu mặt bằng lãi suất không sớm được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ sản xuất, sự phục hồi của doanh nghiệp có thể diễn ra không đồng đều, trong đó nhóm có năng lực tài chính yếu sẽ tiếp tục gặp khó trong việc tận dụng cơ hội từ thị trường.
Nhìn chung, theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, khi chi phí vốn tăng, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc kỹ hơn trong quyết định đầu tư, ưu tiên tối ưu dòng tiền và hiệu quả hoạt động. Điều này có thể tác động đến doanh thu trong tương lai, song ở góc độ khác cũng là cơ hội để doanh nghiệp tái cấu trúc và nâng cao năng lực quản trị tài chính.
Các doanh nghiệp cũng cần chủ động thích ứng bằng cách tối ưu hóa chi phí, đa dạng hóa nguồn vốn và nâng cao hiệu quả quản trị. Việc giảm phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng, tăng cường huy động từ thị trường vốn hoặc đối tác chiến lược được xem là hướng đi cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Ninh Trang
2 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
13 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
27 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước