Tạo đột phá thể chế cho phát triển kinh tế biển bền vững

Quang cảnh Hội thảo “Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững ở Việt Nam". Ảnh: D.Thiện
Đề xuất cơ chế vượt trội để khơi thông kinh tế biển
Chiều 9/7, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo “Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững ở Việt Nam”.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, ngày 8/7, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 182/NQ-CP thông qua hồ sơ chính sách dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 9 tới.
Theo ông Toản, một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo luật là xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo. Đây được xem là bước đột phá nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế biển, đồng thời tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để khai thác hiệu quả tiềm năng biển trong giai đoạn mới.
Thông tin về nhóm chính sách này, ông Nguyễn Thanh Tùng - Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, cơ quan soạn thảo đang đề xuất nhiều chính sách mang tính đột phá nhằm khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế biển, trong đó có nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới doanh nghiệp (DN).
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung các quy định về quyền của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển. Theo đó, tổ chức, cá nhân được giao hoặc thuê khu vực biển trong nội thủy, lãnh hải có thể được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Dự thảo cũng thiết lập cơ chế chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; bổ sung quy định về điều kiện, trường hợp được chuyển nhượng, góp vốn, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, bảo đảm phù hợp với chế độ pháp lý của từng vùng biển, đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia.
Bên cạnh đó, dự thảo đề xuất nhiều cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù đối với các dự án kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghệ cao, phát triển đặc khu kinh tế biển, khu thương mại tự do ven biển, đô thị lấn biển, hạ tầng lưỡng dụng, công trình đa mục tiêu trên biển, logistics biển, công nghệ sinh học biển, phục hồi hệ sinh thái biển và các hoạt động hấp thụ carbon xanh.
Ngoài ra, cơ quan soạn thảo cũng đề xuất cơ chế, chính sách cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phối hợp liên ngành nhằm rút ngắn thời gian thực hiện các dự án đầu tư trên biển.

Ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: D.Thiện
Doanh nghiệp hiến kế khơi thông nguồn lực kinh tế biển
Tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI cho biết, Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển, 21 tỉnh, thành phố giáp biển và đặt mục tiêu trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiềm năng biển vẫn chưa được khai thác tương xứng; Việt Nam giàu tiềm năng nhưng chưa giàu từ biển như kỳ vọng. Theo ông Tuấn, một trong những nguyên nhân căn bản, từ góc nhìn cộng đồng DN, chính là điểm nghẽn về thể chế.
Ông Tuấn cho biết, nhiều DN mong muốn đầu tư điện gió ngoài khơi - lĩnh vực mà thế giới đang chạy đua và Việt Nam có lợi thế tự nhiên hàng đầu trong khu vực. Tuy nhiên, khi triển khai, các nhà đầu tư vẫn vướng những câu hỏi chưa có lời đáp rõ ràng, như quyền của DN đối với khu vực biển được giao là gì, DN có được thế chấp quyền sử dụng khu vực biển để tiếp cận vốn tín dụng hay không. Với các dự án kéo dài 20 - 30 năm, nếu quyền tài sản trên biển không được xác lập minh bạch thì tổ chức tín dụng khó có cơ sở cho vay, còn nhà đầu tư cũng khó yên tâm bỏ vốn.
Không chỉ điện gió ngoài khơi, nhiều nhà đầu tư cũng quan tâm đến nuôi biển công nghệ cao, du lịch biển đảo, hạ tầng lấn biển, nhưng vẫn e ngại về tính ổn định pháp lý. Theo ông Tuấn, đầu tư trên biển có đặc thù riêng: rủi ro cao hơn, chi phí lớn hơn, thời gian thu hồi vốn dài hơn và chịu tác động trực tiếp của thiên tai, biến đổi khí hậu. Trong khi đó, cơ chế ưu đãi hiện hành chủ yếu được thiết kế cho đầu tư trên đất liền, chưa phản ánh đầy đủ những đặc thù này. Vì vậy, một chính sách ưu đãi thông thường áp dụng cho lĩnh vực có mức độ rủi ro cao hơn đáng kể thì tự thân chưa đủ sức hấp dẫn.
Từ thực tiễn đó, đại diện VCCI cho rằng, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), trong đó có chính sách về xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy các hoạt động kinh tế trên biển, đang được cộng đồng DN kỳ vọng lớn.
Góp ý hoàn thiện nhóm cơ chế, chính sách này, ông Bùi Tuấn Anh - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA) cho biết, phát triển bền vững ngành công nghiệp nuôi biển ở nước ta hiện vẫn vướng một số điểm nghẽn về thể chế và cần sớm được tháo gỡ.
Cụ thể, về quy hoạch phát triển và xây dựng hạ tầng cho công nghiệp nuôi biển, đại diện VSA cho biết, theo Luật Thủy sản, các dự án nuôi trồng thủy sản phải nằm trong vùng được quy hoạch cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, nếu không có quy hoạch biển chi tiết thì không thể giao các khu vực biển cụ thể cho người nuôi. Đây là điểm nghẽn lớn cản trở sự phát triển của công nghiệp nuôi biển. Vì vậy, các địa phương cần điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng phối hợp chặt chẽ giữa các ngành kinh tế biển, nhằm tận dụng và phát huy thế mạnh tổng thể đa ngành, khai thác tối đa tiềm năng không gian biển.
Theo ông Tuấn Anh, cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại là điều kiện thiết yếu để phát triển nuôi biển công nghiệp theo hướng bền vững. Trong bối cảnh ngân sách còn khó khăn, có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước tiên tiến, cho phép DN tư nhân ứng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi biển công nghiệp, sau đó bàn giao cho Nhà nước quản lý và được hoàn trả kinh phí sau khi nghiệm thu, kiểm toán chặt chẽ. Hạ tầng sẽ là cú hích quan trọng giúp công nghiệp nuôi biển phát triển đột phá.
Góp ý thêm để thúc đẩy phát triển kinh tế biển, ông Ngô Khắc Lễ - Phó Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam (VISABA) cho rằng cần sớm hình thành Trung tâm Hàng hải Quốc tế tại Việt Nam. Theo ông Lễ, Việt Nam có bờ biển dài, nằm trên tuyến hàng hải nhộn nhịp hàng đầu thế giới, sản lượng container tăng trưởng nhanh nhất châu Á trong giai đoạn 2010 - 2025. Tuy nhiên, ngành hàng hải Việt Nam hiện mới chủ yếu khai thác phần cuối của chuỗi giá trị như vận tải, xếp dỡ, trong khi các dịch vụ giá trị gia tăng cao như tài chính hàng hải, bảo hiểm, pháp lý - trọng tài, môi giới, quản trị đội tàu… phần lớn vẫn được thực hiện qua Singapore, Hồng Kông. Chi phí logistics của Việt Nam hiện cũng cao gấp đôi các trung tâm hàng hải phát triển.
Từ thực tế đó, đại diện VISABA kiến nghị cơ quan quản lý nghiên cứu về định hướng và cơ chế đặc thù, vượt trội để hình thành Trung tâm Hàng hải Quốc tế, gắn phát triển Trung tâm với hoàn thiện hạ tầng số ngành cảng biển.
Đại diện Tập đoàn Sun Group đề xuất bổ sung quy định về đảo hình thành từ hoạt động lấn biển; có cơ chế ưu tiên đối với các dự án đô thị lấn biển, đồng thời nghiên cứu cơ chế giao DN tham gia quản lý, bảo tồn tại một số khu bảo tồn biển theo quy định của pháp luật.
Từ góc độ đại diện cộng đồng DN, ông Đậu Anh Tuấn cho biết các DN trong ngành đặt ra một số kỳ vọng trong quá trình xây dựng nhóm cơ chế, chính sách này.
Trước hết, các ưu đãi phải thực sự vượt trội và có thể tiên liệu được. DN không chỉ cần ưu đãi ở mức cao mà còn cần một cơ chế rõ ràng, minh bạch, ổn định và có thể dự đoán trong dài hạn. Một chính sách dù hấp dẫn đến đâu nhưng vẫn phụ thuộc vào cơ chế “xin - cho”, phải qua nhiều đầu mối, sẽ làm suy giảm động lực đầu tư. Vì vậy, luật cần luật hóa được các tiêu chí, điều kiện đủ minh bạch để DN có thể tự đối chiếu và yên tâm ra quyết định.
Bên cạnh đó, quyền tài sản trên biển cần được xác lập đầy đủ. Đây là điểm mấu chốt. Khi DN được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển một cách hợp pháp và an toàn, khu vực biển mới thực sự trở thành một nguồn lực kinh tế, một loại tài sản có thể huy động vốn và lưu thông trên thị trường.
Đặc biệt, ưu đãi cũng phải đi liền với cắt giảm thủ tục và cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Một dự án trên biển hiện nay có thể phải làm việc với nhiều đầu mối khác nhau. Nếu không có cơ chế tập trung, liên thông thực chất thì chi phí tuân thủ và chi phí thời gian sẽ làm giảm giá trị của mọi ưu đãi tài chính mà Nhà nước dành cho DN./.
DIỆU THIỆN
2 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
2 ngày trước
7 ngày trước
9 ngày trước
9 ngày trước
10 ngày trước
20 ngày trước
29 phút trước
12 phút trước
7 phút trước
20 phút trước
29 phút trước
31 phút trước
35 phút trước