🔍
Chuyên mục: Xã hội

Sức lan tỏa từ Phong trào 'Bình dân học vụ số'

12 giờ trước
Sau 1 năm triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, chuyển đổi số đang có bước chuyển quan trọng: Từ nhận thức sang hành động, từ biết sử dụng công nghệ đến chủ động ứng dụng công nghệ trong học tập, lao động, sản xuất, quản lý và đời sống.

Để có được sự chuyển biến đó là thông qua hiệu quả hàng trăm mô hình thiết thực, lấy người dân làm trung tâm, lấy nhu cầu thực tế làm điểm xuất phát và lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo.

NHỮNG MÔ HÌNH NHỎ, TẠO CHUYỂN BIẾN LỚN

Một năm trước, nói đến chuyển đổi số, kahông ít người nghĩ đó là câu chuyện của công nghệ, của máy tính, phần mềm hay những hệ thống kỹ thuật chuyên ngành. 

Hướng dẫn người dân sử dụng ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt ở xã Phong Hòa.                         Ảnh NHẬT KHÁNH

Nhưng thực tiễn triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” ở Đồng Tháp đang từng bước thay đổi cách nghĩ đó. Điểm chuyển biến rõ nét trước hết nằm ở nhận thức của cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị. 

Chuyển đổi số không còn được xem là nhiệm vụ riêng của ngành Khoa học và Công nghệ, mà đã trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và phục vụ Nhân dân.

Từ nhận thức trên, cách tổ chức thực hiện cũng thay đổi theo. Trong đó, vai trò của công tác tuyên truyền không dừng lại ở việc nói cho người dân biết chuyển đổi số là gì, vì sao phải chuyển đổi số, mà chuyển mạnh sang hướng dẫn người dân sử dụng và tự sử dụng. 

Đó chính là giá trị nổi bật của “Bình dân học vụ số”: Biến chủ trương thành hành động, biến nhận thức thành kỹ năng và từng bước hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số trong cán bộ và Nhân dân.

Nếu chủ trương là “định hướng”, thì mô hình ở cơ sở chính là nơi chủ trương được cụ thể hóa thành những việc làm hằng ngày. Sau 1 năm, toàn tỉnh có 710 mô hình được chuẩn hóa để tiếp tục duy trì và nhân rộng, với nhiều cách làm gần gũi như: “Gia đình số”, “Đại sứ số”, “Đội hình thanh niên tình nguyện số”, “Chợ số”, “Tuyến đường không dùng tiền mặt”, “Mặt trận số”… 

Các mô hình xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, dễ triển khai, dễ nhân rộng và từng bước đưa chuyển đổi số đến gần hơn với đời sống người dân. Tại nhiều khu dân cư, người dân được hướng dẫn tạo và sử dụng tài khoản định danh điện tử VNeID, thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng Sổ sức khỏe điện tử, bảo hiểm xã hội số; được hướng dẫn những kỹ năng cơ bản để tự bảo vệ mình trước nguy cơ lừa đảo và mất an toàn thông tin trên môi trường mạng. 

Những con số cho thấy rõ hơn sự chuyển biến đó. Toàn tỉnh có trên 3 triệu công dân kích hoạt tài khoản định danh điện tử, trên 1,1 triệu công dân tích hợp thẻ bảo hiểm y tế vào tài khoản định danh điện tử mức 2. 

Việc khám, chữa bệnh bằng Căn cước công dân/Căn cước gắn chip được triển khai tại 100% cơ sở khám, chữa bệnh, với hơn 2,68 triệu lượt sử dụng, đạt trên 91%; trên 845 ngàn người cài đặt tài khoản VssID; tỷ lệ người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận tiền qua phương thức thanh toán không dùng tiền mặt gần 91%.

“HƯỚNG DẪN ĐỂ NGƯỜI DÂN TỰ LÀM”

Một trong những bài học đáng chú ý sau 1 năm triển khai phong trào là sự thay đổi trong phương thức hỗ trợ người dân. 

Một thành công quan trọng khác của phong trào là đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị. 

Toàn tỉnh có 1.693 Tổ Công nghệ số cộng đồng với hơn 10.200 thành viên. 

Tỉnh đoàn xây dựng 114 Đội hình “Bình dân học vụ số” với hơn 6.000 cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên, tổ chức khoảng 1.000 hoạt động, trực tiếp hướng dẫn hơn 322.000 lượt người dân sử dụng các nền tảng số. 

Đặc biệt, phong trào góp phần làm rõ hơn vai trò của cấp cơ sở trong chuyển đổi số. 

Thực tiễn tại xã Tân Hộ Cơ, phường Đạo Thạnh cho thấy, khi cấp ủy trực tiếp lãnh đạo, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và gắn phong trào với nhu cầu cụ thể của người dân, hiệu quả triển khai được nâng lên rõ rệt. 

Điểm nổi bật là chuyển từ “làm thay” sang “hướng dẫn để người dân tự làm”. Từ đó, thước đo của phong trào cũng phải thay đổi: Không chỉ đếm có bao nhiêu lớp tập huấn, bao nhiêu cuộc tuyên truyền, bao nhiêu mô hình; quan trọng hơn là có bao nhiêu người sử dụng được, sử dụng thường xuyên và sử dụng hiệu quả.

Sức sống của “Bình dân học vụ số” còn được thể hiện ở chỗ phong trào không bó hẹp trong việc phổ cập một số thao tác công nghệ cơ bản, mà từng bước gắn kỹ năng số với từng lĩnh vực của đời sống. Trong giáo dục, chuyển đổi số được gắn với học bạ số, giáo dục STEM, học liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. 

Đến nay, 100% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai học bạ số, khoảng 90% cơ sở giáo dục phổ thông đạt mức 2 trở lên theo Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số ngành Giáo dục.

Trong sản xuất, kinh doanh, kỹ năng số được gắn với thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, hiện diện trực tuyến và khai thác nền tảng số. 

Năm 2026, tỉnh đào tạo, hướng dẫn 296 hợp tác xã, chiếm 70,4%, ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, khai thác thông tin thị trường và chuyển đổi số trong nông nghiệp. 

Có 142 hợp tác xã triển khai truy xuất nguồn gốc; 21 hợp tác xã xây dựng 99 mã số vùng trồng với tổng diện tích 5.164 ha, gần 10.800 hộ thành viên tham gia.

Trong hoạt động của chính quyền, kỹ năng số gắn với chữ ký số, hệ thống thông tin dùng chung, dịch vụ công trực tuyến, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng phục vụ công việc. 

Trong đời sống, kỹ năng số gắn với y tế, an sinh xã hội, thanh toán điện tử và các tiện ích thiết yếu. Qua đó, chuyển đổi số ngày càng hiện hữu trong những công việc cụ thể, thay vì chỉ tồn tại trong các chương trình, kế hoạch.

TỪ  “BIẾT SỐ” ĐẾN “SỐNG SỐ”

Những kết quả bước đầu là đáng ghi nhận, nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới. 

Khoảng cách về kỹ năng số giữa các nhóm đối tượng và giữa các địa bàn vẫn còn; người cao tuổi, người yếu thế và một bộ phận người dân ở khu vực nông thôn còn khó khăn trong tiếp cận công nghệ. 

Chất lượng một số mô hình chưa đồng đều; nguy cơ lừa đảo, thông tin xấu, sai sự thật và mất an toàn dữ liệu trên môi trường mạng ngày càng phức tạp. Vì vậy, chặng đường tiếp theo của “Bình dân học vụ số” cần được xác định không phải là học thêm thật nhiều, mà là làm được nhiều hơn từ những gì đã học. 

Mỗi xã, phường cần có mô hình tiêu biểu, phù hợp điều kiện thực tế và có khả năng nhân rộng. 

Mỗi mô hình phải có mục tiêu cụ thể, sản phẩm cụ thể và số liệu chứng minh hiệu quả.

Khi một người dân có thể tự mình thực hiện một dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng tiện ích y tế số; khi một nông dân biết đưa sản phẩm lên môi trường số; khi một học sinh biết sử dụng AI có trách nhiệm; khi một cán bộ biết dùng dữ liệu và công cụ số để nâng cao hiệu quả công việc - đó chính là lúc chuyển đổi số thực sự đi vào cuộc sống.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu. Mỗi tổ chức chính trị - xã hội phải xác định phần việc cụ thể. Mỗi Tổ Công nghệ số cộng đồng phải thực sự là “cánh tay nối dài” đưa kỹ năng số đến từng người dân.

Đặc biệt là cần tiếp tục ưu tiên những dịch vụ số thiết yếu, trực tiếp tác động đến đời sống Nhân dân như: VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, Sổ sức khỏe điện tử, bảo hiểm xã hội số, học tập số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, lấy mức độ người dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ số và sự hài lòng của người dân làm thước đo kết quả.

Sau 1 năm, điều đáng mừng nhất của “Bình dân học vụ số” không chỉ là có thêm những con số, những mô hình hay những lớp tập huấn. Điều đáng mừng hơn là cách nghĩ đang thay đổi, cách làm đang thay đổi và hành vi đang thay đổi. 

Từ một chủ trương của Đảng, phong trào đã trở thành những việc làm cụ thể trong từng cơ quan, đơn vị, trường học, hợp tác xã, khu dân cư và từng gia đình. 

Từ “biết chuyển đổi số” đến “biết sử dụng công nghệ số”, từ “biết sử dụng” đến “sử dụng thường xuyên”, từ “sử dụng” đến “ứng dụng để tạo ra giá trị” - đó chính là hành trình mà Đồng Tháp đang từng bước đi qua.

TS. NGUYỄN ÚT

TIN LIÊN QUAN




















































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ