Sản xuất và tiêu thụ thép tăng trưởng hai con số, xuất khẩu đối mặt với rào cản thương mại
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành thép Việt Nam bứt phá với mức tăng trưởng về sản xuất và tiêu thụ đạt hai con số, trong đó thép cuộn cán nóng (HRC) đóng vai trò động lực chính. Dù vậy, ngành vẫn đối mặt với thách thức lớn từ biến động giá nguyên liệu và áp lực phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu...

Sản xuất thép thô cả nước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 15,18 triệu tấn, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: Nguyệt Hà.
Theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất thép thô của cả nước đạt 15,18 triệu tấn, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm trước.
Về tiêu thụ thép thô, trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 14,81 triệu tấn, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu thép thô đạt 1,696 triệu tấn, tăng 5,3%.
TĂNG TRƯỞNG Ở HẦU HẾT MẶT HÀNG, HRC LÀ ĐIỂM SÁNG LỚN NHẤT
Đối với thép thành phẩm các loại, sản lượng sản xuất 6 tháng đầu năm 2026 đạt 18,21 triệu tấn, tăng 15,1%; sản lượng bán hàng đạt 17,95 triệu tấn, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức tăng trưởng được VSA ghi nhận ở hầu hết các mặt hàng, ngoại trừ tôn mạ và thép cán nguội giảm cả về sản lượng và tiêu thụ.
Xét theo từng nhóm sản phẩm, thép cuộn cán nóng (HRC) là điểm sáng lớn nhất của thị trường trong nửa đầu năm. Cụ thể, sản lượng sản xuất HRC 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5,397 triệu tấn, tăng 41,9%; sản lượng bán hàng đạt 5,338 triệu tấn, tăng 36,8%so với cùng kỳ năm 2025. Riêng xuất khẩu, HRC đạt 758 nghìn tấn, tăng 62,2% so với cùng kỳ.
Thép xây dựng cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực với sản lượng sản xuất đạt 7,69 triệu tấn (tăng 19,3%) và tiêu thụ đạt 7,64 triệu tấn (tăng 15,1%). Ống thép hàn ghi nhận sản lượng sản xuất 1,28 triệu tấn (tăng 3,5%) và bán hàng 1,41 triệu tấn (tăng 5,2%).
Ngược lại, hai nhóm sản phẩm thép dẹt là tôn mạ kim loại và sơn phủ màu và thép cán nguội (CRC) tiếp tục sụt giảm cả về sản xuất lẫn tiêu thụ. Cụ thể, sản lượng sản xuất tôn mạ 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,361 triệu tấn, giảm 14,4%; bán hàng đạt 2,26 triệu tấn, giảm 9,5%, trong đó xuất khẩu giảm tới 29,4% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, CRC có sản lượng sản xuất đạt 1,477 triệu tấn (giảm 6,2%) và bán hàng đạt 1,304 triệu tấn (giảm 3,6%).
Về thị phần, nhóm 5 doanh nghiệp sản xuất thép thô hàng đầu chiếm 83,2% thị phần toàn ngành trong 6 tháng đầu năm 2026, dẫn đầu là Hòa Phát (46%), tiếp theo là Formosa (20,5%), VAS (10,3%), Thép Miền Nam (3,6%) và VinaKyoei (2,8%).
Đối với thép xây dựng, Hòa Phát giữ vị trí dẫn đầu với sản lượng sản xuất 2,84 triệu tấn, chiếm 35,84% thị phần toàn ngành; Tổng công ty Thép Việt Nam - CTCP (VNSteel) đứng thứ hai với 12,06%.
Ở phân khúc tôn mạ, Hoa Sen dẫn đầu nhóm doanh nghiệp với 27,8% thị phần, theo sau là Tôn Đông Á (15,6%) và Nam Kim (14,8%).
GIÁ NGUYÊN LIỆU BIẾN ĐỘNG ĐÃ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ THÉP TRONG NƯỚC
Về giá nguyên liệu đầu vào, báo cáo của VSA cho biết giá quặng sắt loại 62% Fe bình quân 6 tháng đầu năm 2026 ở mức 104,7 USD/tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính đến ngày 9/7/2026, giá quặng sắt giao dịch ở mức 99 USD/tấn CFR cảng Thiên Tân (Trung Quốc), giảm 2,8 USD/tấn so với đầu tháng 6/2026. Giá than mỡ luyện cốc biến động mạnh hơn, với mức bình quân 6 tháng đạt 237,6 USD/tấn, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước; giá giao dịch ngày 9/7/2026 ở mức khoảng 239 USD/tấn FOB Australia.
Giá thép phế liệu (nguyên liệu chính cho sản xuất thép bằng công nghệ lò điện) bình quân 6 tháng đầu năm 2026 đạt 379,3 USD/tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ 2025. Trong nước, giá thép phế tháng 6/2026 giảm 200 đồng/kg, xuống còn 9.100-9.600 đồng/kg.
Theo nhận định của VSA, diễn biến giá nguyên liệu tăng, cùng với chi phí vận tải biển tăng mạnh từ đầu năm, đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thép. Do đó, giá thép xây dựng trong nước đã điều chỉnh tăng 4-6 lần trong 6 tháng đầu năm 2026, với tổng mức tăng từ 1.200-1.450 đồng/kg, tương ứng khoảng 10-13% so với cùng kỳ năm 2025. Giá thép bình quân 6 tháng đạt 548,9 USD/tấn, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Diễn biến giá nguyên liệu tăng, cùng với chi phí vận tải biển tăng mạnh đầu năm, đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thép. Ảnh: Nguyệt Hà.
Về thương mại quốc tế, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 7,73 triệu tấn sắt thép, trị giá hơn 5,61 tỷ USD, tăng 2,84% về lượng và 4,56% về giá trị so với cùng kỳ 2025. Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung thép lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 49,1% tổng lượng nhập khẩu, tiếp theo là Nhật Bản (12,37%), ASEAN (11,11%), Ấn Độ (10,03%) và Hàn Quốc (9,91%). Ở chiều xuất khẩu, thép thành phẩm các loại đạt 5,54 triệu tấn, giảm 1,79% so với cùng kỳ; giá trị xuất khẩu đạt 3,701 tỷ USD, giảm 0,3%.
Với kết quả này, cán cân thương mại thép 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận thâm hụt khoảng 2,3 triệu tấn về sản lượng, tương đương hơn 1,9 tỷ USD về giá trị.
TIẾP TỤC ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU VỤ KIỆN PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
Diễn biến đáng chú ý trong 6 tháng đầu năm 2026 liên quan đến hạn ngạch thép Việt Nam xuất khẩu sang EU. Theo Quy định số 2026/1457 của EU ban hành ngày 29/6/2026, tổng hạn ngạch thép Việt Nam có thể xuất khẩu sang EU đạt khoảng 1,6 triệu tấn/năm, thấp hơn đáng kể so với mức hạn ngạch mà EU đưa ra vào đầu tháng 6/2026 (khoảng 2,4 triệu tấn/năm).
Đối với 6 nhóm sản phẩm thép được phân bổ hạn ngạch theo quy tắc xuất xứ ưu đãi (MFN và FTA), tổng lượng đạt hơn 1,1 triệu tấn, giảm 20% so với sản lượng xuất khẩu trước khi hạn ngạch có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể xuất khẩu thêm khoảng 400.000-500.000 tấn đối với 22 nhóm hàng khác theo cơ chế "đến trước được phục vụ trước".
Bên cạnh thị trường EU, xuất khẩu thép của Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều vụ việc phòng vệ thương mại mới tại các thị trường khác. Cụ thể, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành kết luận sơ bộ vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ Việt Nam, với mức thuế sơ bộ 121,97% đối với công ty bị đơn bắt buộc và các công ty liên kết, và 130,77% đối với các công ty còn lại – cao hơn mức thuế sơ bộ áp dụng cho Bulgaria (52,80%) và Ai Cập (34,20-52,73%) trong cùng vụ việc.
Tại Australia, Ủy ban chống bán phá giá thuộc Bộ Công nghiệp, Khoa học và Tài nguyên đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với thép mạ kẽm nhập khẩu từ Việt Nam và Hàn Quốc từ ngày 30/4/2026, với biên độ bán phá giá ước tính đối với doanh nghiệp Việt Nam là 56,21%; kết luận điều tra dự kiến được báo cáo vào ngày 2/10/2026.
Ukraine cũng khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với thép carbon cán phẳng có phủ xuất xứ từ Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc và Ấn Độ, công bố ngày 26/5/2026.
Tại Ai Cập, quyết định áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với nhiều sản phẩm thép nhập khẩu, trong đó có thép Việt Nam, đã có hiệu lực từ tháng 4/2026, áp dụng cho phôi thép, thép tấm cán nóng, thép cuộn cán nguội, thép mạ kẽm và thép phủ màu.
Ngày 15/6/2026, Nam Phi đã ban hành kết luận cuối cùng vụ việc điều tra tự vệ đối với thép cuộn chống ăn mòn nhập khẩu, trong đó Việt Nam được nêu tên là quốc gia được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng biện pháp thuế tự vệ (dao động từ 22,34% đến 52,34% theo lộ trình 3 năm), do lượng nhập khẩu từ Việt Nam không vượt ngưỡng quy định.
Tính từ năm 2004 đến tháng 5/2026, số vụ việc nước ngoài khởi kiện đối với thép xuất khẩu của Việt Nam đã lên tới 93 vụ, bao gồm 56 vụ chống bán phá giá, 15 vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ, 10 vụ chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại, 9 vụ vừa chống bán phá giá vừa chống trợ cấp và 3 vụ chống trợ cấp riêng lẻ.
Tại thị trường trong nước, tính đến hết ngày 30/6/2026, Việt Nam đã khởi xướng điều tra 13 vụ việc phòng vệ thương mại liên quan đến các sản phẩm thép nhập khẩu. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Công Thương đã ban hành bảng câu hỏi điều tra phục vụ vụ việc rà soát lần thứ ba biện pháp chống bán phá giá đối với thép hình chữ H xuất xứ từ Trung Quốc (mã vụ việc ER02.AD03), với thời hạn nộp bản trả lời trước ngày 13/8/2026.
Đồng thời, cơ quan điều tra dự kiến ban hành kết luận cuối cùng vào cuối tháng 7/2026 đối với vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh phòng vệ thương mại với thép cán nóng xuất xứ từ Trung Quốc (mã vụ việc AC03.AD20), sau phiên tham vấn công khai được tổ chức ngày 3/7/2026.
Nguyệt Hà
1 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
11 ngày trước
20 ngày trước
21 ngày trước
22 ngày trước
22 ngày trước
32 phút trước
30 phút trước
1 giờ trước
28 phút trước
Vừa xong
1 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
7 phút trước
11 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
13 phút trước