Sân bay Long Thành và bài toán đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước
Tại hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79 (về phát triển kinh tế nhà nước) và Nghị quyết 80 (về phát triển văn hóa) của Bộ Chính trị, dư luận đặc biệt quan tâm về các ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm về đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, là sự băn khoăn về dự án xây dựng sân bay Long Thành với nguồn vốn lên tới 16 tỷ USD nhưng cụ thể về sự vượt trội, cũng như đóng góp cho kinh tế.
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Tiến Lập - Thành viên Văn phòng luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam xoay quanh vấn đề này.
- Thưa ông, hiện nay dư luận đang rất quan tâm về phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm về đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Một ví dụ được Tổng Bí thư nêu ra và bày tỏ sự băn khoăn là dự án xây dựng sân bay Long Thành với nguồn vốn tới 16 tỷ USD – cao hơn nhiều so với khu vực, nhưng chưa rõ về sự vượt trội, hiệu quả kinh tế. Xin ông cho biết suy nghĩ của mình về điều này?
Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Thực ra về câu chuyện sân bay Long Thành, từ nhiều năm trước đã có những ý kiến phản biện của các chuyên gia một cách thẳng thắn, thậm chí với thái độ bức xúc. Nay lời của Tổng Bí thư có tác dụng như “cởi tấm lòng”, khiến làn sóng đánh giá lại của dư luận được dịp bùng nổ. Tựu trung, chúng ta thấy nổi lên hai vấn đề:
Một là hiệu quả kinh tế của dự án, cho dù đã gần xong, vẫn chưa rõ; và hai là, và tôi cho rằng nghiêm trọng hơn, đó là cho dù sân bay có xây xong thì cũng chưa chắc khai thác thương mại được do thiếu kết nối giao thông phù hợp. Có nghĩa rằng nếu đánh giá hiệu quả thì còn có thể bàn dài dài. Nhưng nếu kết quả đầu ra không đạt được thì suy cho cùng; đó liệu có phải là một dự án đầu tư thật sự, đúng nghĩa và bài bản không?
Vậy, xét từ góc độ thể chế, đúng là có câu hỏi cần đặt ra, đó là quy trình ra quyết định đầu tư dự án này có vấn đề hay khiếm khuyết gì để dẫn tới hệ quả như vậy? Bởi nếu không làm rõ việc này thì chắc chắn không chỉ đã, đang mà sẽ còn tiếp tục có những dự án như vậy để đất nước, người dân phải gánh chịu.

Phối cảnh dự án sân bay Long Thành
Khác với một dự án đầu tư có tính chất thương mại của khu vực tư nhân. Một dự án đầu tư công, đặc biệt là dự án lớn, về nguyên tắc cần phải thỏa mãn hai yêu cầu cơ bản, bao gồm ý nghĩa, lợi ích chính trị và đạt các tiêu chuẩn về khoa học. Hai yêu cầu này cũng tương thích với hai quy trình có liên quan. Đó là dự án đó phải được các cấp quyền lực và cơ quan chức năng phê chuẩn; đồng thời trải qua một quy trình và thủ tục xem xét, đánh giá khắt khe và khách quan, bao gồm cả phản biện, của giới chuyên môn.
Đối với dự án sân bay Long Thành, đương nhiên “quy trình chính trị - pháp lý” đã được thực hiện, thậm chí hoàn thành một cách kỹ càng, bài bản và đạt tất cả các yêu cầu theo quy định. Nhưng còn quy trình thứ hai, nếu có thì đã được tiến hành như thế nào? Chúng ta không rõ nhưng người dân và dư luận có quyền nghi ngờ và chất vấn. Tại sao ?
Thứ nhất, “quy trình xem xét chuyên môn” cần phải bảo đảm tính độc lập và khách quan. Các cơ quan chức năng đương nhiên có thể giải thích phần thẩm định và tham vấn chuyên môn đã được thực hiện trong quá trình phê chuẩn chính thức, và tôi tin rằng điều đó đã được thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ nếu cơ quan chuyên môn và cá nhân các chuyên gia lại nằm trong mối quan hệ phụ thuộc về hành chính hay chỉ đạo chính trị. Thậm chí, bị ràng buộc về quan hệ tài chính với cơ quan phê chuẩn thì liệu rằng tính độc lập và khách quan có thể được bảo đảm hay không ?
Thứ hai, đã nói tới chuyên môn thì vai trò cá nhân có tính quyết định mà không phải tập thể, cơ quan hay tổ chức. Cá nhân đó có trình độ và kinh nghiệm thế nào, thậm chí cả bản lĩnh nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức nữa. Ý kiến và quan điểm của họ được thể hiện ra sao, dưới hình thức các báo cáo chuyên môn đạt chuẩn thế nào? Tất cả những vấn đề đó, theo tôi cần phải được làm rõ bằng một quy trình minh bạch và công khai.
Thứ ba, đó là yêu cầu rất cao về trách nhiệm chuyên môn cũng cần phải được đặt ra. Theo đó, mỗi chuyên gia được giao nhiệm vụ đánh giá sẽ không chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan phê chuẩn mà còn cả trách nhiệm trước cộng đồng nghề nghiệp và xã hội.
Giả sử chúng ta đã có được một quy trình xem xét chuyên môn nghiêm túc và chuyên nghiệp như thế đối với dự án sân bay Long Thành, tôi tin rằng các hệ quả mà như dư luận phản ánh và Tổng Bí thư chất vấn đã hoàn toàn có thể tránh được.
- Có chuyên gia cho rằng có một vấn đề là ở dự án, các nhà tư vấn dự án không đứng tên ra, mà để cho nhà chính trị đứng tên (trong khi đó, ví dụ một báo cáo của sân bay thứ 2 ở Sydney, có 5-7 người chuyên môn đứng tên). Điều này gợi lên trong ông suy nghĩ gì?
Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Tôi vẫn nghĩ mọi việc đều có căn nguyên và logic của nó. Trước hết, dự án sân bay Long Thành là một dự án kinh tế thuần túy hay là dự án có tính chất, mục tiêu chính trị, hoặc cả hai? Nếu cả hai thì cần làm rõ yếu tố nào được ưu tiên? Tức mọi chuyện phải được làm minh bạch.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập - Thành viên Văn phòng luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Trong trường hợp ấy, nhà tư vấn của dự án phải xác định chức năng và nhiệm vụ của mình là thuần túy chuyên môn, theo đó tôi có quyền và trách nhiệm đánh giá trung thực, bao gồm cả phản biện, bác bỏ tính khả thi về thương mại hay kỹ thuật của dự án. Một khi đánh giá về chuyên môn về dự án là vậy mà nhà chính trị vẫn quyết định triển khai thì đương nhiên sẽ là sự đánh đổi, và nếu hậu quả không mong muốn xảy ra thì nhà chính trị phải gánh chịu.
Cho nên, nếu quá trình thẩm định, phê chuẩn dự án không được minh bạch và công khai thì làm sao ai biết có nhà chuyên môn nào đã tham gia và đánh giá của họ thế nào? Chưa nói tới một khía cạnh khác cũng rất thực tế, đó là cho dù có các nhà tư vấn chuyên môn tham gia thì ai dám dũng cảm hay có vị thế, quyền năng độc lập, chính danh để công bố về vai trò và quan điểm của mình? Quả thật, vấn đề này cũng là một điểm nghẽn của cơ chế hiện hành cần được xem xét, tháo gỡ.
- Tổng Bí thư cho rằng “hình như các doanh nghiệp nhà nước không tính đến tính hạch toán của nền kinh tế mà chủ yếu nghĩ đến vấn đề giải ngân”. Ông nghĩ sao về gợi mở này của Tổng bí thư? Nếu đầu tư không tính đến thu hồi vốn, hiệu quả mà chỉ chú trọng giải ngân thì hậu quả là gì?
Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Với kinh nghiệm nghề nghiệp nhiều năm, tôi hiểu, chia sẻ và hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Tổng Bí thư. Nhưng tại sao và logic của vấn đề ở đây là gì? Tôi nghĩ thật dễ hiểu.
Bởi với một doanh nghiệp nói chung, “hạch toán kinh tế” là mục tiêu và chức năng đương nhiên hay tự thân, tức đó chính là cơ sở tồn tại trong bối cảnh cạnh tranh của thương trường. Trong khi đó, khi Tổng Bí thư đề cập “vấn đề giải ngân”, tức nhận vốn từ ngân sách cho kinh doanh hay thực hiện dự án đầu tư công, thì đó là nhiệm vụ riêng hay đặc thù được giao từ cấp trên, là người chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Câu hỏi thú vị đặt ra là: Tại sao doanh nghiệp nhà nước lại không quan tâm hay đặt sự tồn tại bằng cạnh tranh về hiệu quả kinh tế lên hàng đầu mà lại ưu tiên cho việc thực hiện nhiệm vụ giải ngân? Câu trả lời chạm đến bản chất tự nhiên hay cố hữu của DNNN.
Ai cũng biết doanh nghiệp được điều hành bởi ban lãnh đạo của nó. Nếu ở doanh nghiệp tư nhân thì đó là người chủ hay đại diện của người chủ sở hữu, nhưng đối với DNNN, những người lãnh đạo, điều hành lại được coi là viên chức, thậm chí còn là nhân sự tiềm năng của các vị trí lãnh đạo chính trị - hành chính trong bộ máy nhà nước tương lai. Vậy thì cái tâm thế của họ khi hành động là gì? Chắc chắn đó là làm sao đáp ứng cao nhất các yêu cầu hay mệnh lệnh của cấp trên, tức những người có quyền đánh giá, đề bạt hay thậm chí thuyên chuyển, cách chức mình. Đây là logic thứ nhất, nó có ý nghĩa sống còn vì là hạt nhân, động lực phát triển của doanh nghiệp.

Tổng Bí thư Tô Lâm có bài phát biểu đáng chú ý tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 và 80 của Bộ Chính trị
Tiếp đó, xét từ góc độ một pháp nhân kinh tế. Một khi Nhà nước có các nhiệm vụ chính trị cần thực hiện, chẳng hạn như đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng, đạt GDP kỳ vọng, thì sẽ triển khai nó bằng cách nào và thông qua ai? Nếu là doanh nghiệp tư nhân thì chắc chắn phức tạp bởi phải tuân thủ pháp luật và cơ chế hợp đồng, thay cho mệnh lệnh hành chính. Vậy thì giao nhiệm vụ ấy cho DNNN thì sẽ tiện lợi hơn rất nhiều vì chỉ cần giao là sẽ được chấp hành. Trong trường đó, thử hỏi rằng giả sử ban lãnh đạo doanh nghiệp biết là không đủ năng lực hay chưa sẵn sàng thì có quyền và có sự dũng cảm để từ chối hay không? Câu trả lời ai cũng biết là không.
Còn một khi doanh nghiệp đã ưu tiên thực hiện nhiệm vụ chính trị mà trong trường hợp này là giải ngân vốn đầu tư công, thì đương nhiên họ phải bất chấp hiệu quả kinh tế rồi, hay có biết sẽ hạch toán thua lỗ thì cũng không thể tránh được. Khi đó, hệ quả trực tiếp là lãnh đạo doanh nghiệp phải tìm cách báo cáo sai lệch đi, rồi có thể phải buộc âm thầm gánh chịu trách nhiệm, thay vì chủ động lâm vào tình thế rủi ro là tranh cãi hay đổ lỗi cho cấp trên.
Vậy nên, trong các nghiên cứu để góp ý, phản biện khi xây dựng Luật DNNN, tôi đã đề xuất phải phân định rạch ròi DNNN thực hiện nhiệm vụ công ích và DNNN thuần túy kinh doanh. Cụ thể, đó chính là cái gọi là mô hình doanh nghiệp sở hữu công của Singapore hay các nước Trung Đông, đã được triển khai và thành công. Có nghĩa rằng từ cách đặt vấn đề của Tổng Bí thư thì vấn đề không còn là câu chuyện từng dự án đơn lẻ mà cả một câu chuyện cải cách thể chế có liên quan.
- Thưa ông, trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ngày càng cấp thiết, ông đánh giá thế nào về việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 79? Ở góc độ chuyên gia, ông đề xuất gì để nâng cao hiệu quả đầu tư của DNNN trong giai đoạn tới?
Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Tôi đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của Nghị quyết 79. Ít nhất trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đã từng ban hành rất nhiều các nghị quyết khác nhau về đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, thì Nghị quyết này thể hiện rằng Đảng vẫn thấy khu vực kinh tế này vẫn còn nhiều hạn chế so với nguồn lực, tiềm năng của nó nên cần phải tiếp tục tiến trình cải cách.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước
Còn nếu để tiếp tục góp ý thì tôi cho rằng trước hết cần trả lời một câu hỏi đơn giản: Ai và cái gì quyết định hiệu quả đầu tư, kinh doanh của DNNN? Trước hết, đó chính là vai trò quan trọng và quyết định của người lãnh đạo doanh nghiệp. Họ là ai? Đó có phải là những người giỏi hay giỏi nhất không? Nếu họ giỏi về trình độ và kinh nghiệm có sẵn thì sau khi đứng đầu DNNN, họ còn có quyền lực và cơ hội để tiếp tục phát huy điều đó không?
Đã là con người thì khi muốn cống hiến hết mình và sáng tạo chắc chắn ai cũng phải được yên tâm về các rủi ro, trong đó trước hết là rủi ro về an toàn chức vụ và an ninh cá nhân. Như vậy thì phải làm sao có được cơ chế bảo đảm của thể chế cho các lãnh đạo DNNN để tránh được các rủi ro tiềm ẩn, không lường trước được ngoài rủi ro đến từ thị trường.
Hai là, cần sớm phân định mục tiêu và phân loại DNNN. Nếu DNNN công ích thực hiện nhiệm vụ chính trị và không cạnh tranh thì DNNN kinh doanh phải có vị thế độc lập, bình đẳng và chịu sự cạnh tranh như mọi doanh nghiệp khác trên thương trường.
Nếu đặt vấn đề rành mạch như thế thì mục tiêu chính trị từ phía Nhà nước cũng cần thay đổi, đó là thay vì quản lý doanh nghiệp sẽ chuyển sang quản lý hiệu quả vốn đầu tư. Nhà nước cần thôi nắm giữ sở hữu chi phối tại doanh nghiệp mà chỉ còn đầu tư cổ phần hạn chế, thậm chí ngắn hạn và linh hoạt, vào những nơi có quản trị hiệu quả và khu vực có khả năng sinh lời cao nhất.
Tóm lại, các bài học về DNNN đã có rất nhiều từ kinh nghiệm thế giới. Đã đến lúc chúng ta cần tham khảo từ đó một cách thực chất để có các giải pháp thích hợp cho mình.
Xin cảm ơn ông!
Lam Thanh (thực hiện)
6 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
20 phút trước
4 giờ trước
8 phút trước
17 phút trước
19 phút trước