🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Quản trị tài sản số: Cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và an toàn hệ thống

7 giờ trước
Tài sản số đang trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít thách thức về quản trị và pháp lý. Tại Hội thảo quốc tế về tài sản số do Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội phối hợp tổ chức, các chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng hệ thống quản trị hiện đại, đồng bộ để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn thị trường.

Hội thảo quốc tế về tài sản số với chủ đề "Hành lang pháp lý - Kinh tế và Công nghệ trong kỷ nguyên Web3" diễn ra ngày 25/6 tại Hà Nội do Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội (FBU) phối hợp với Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga, Học viện Kinh tế - Tài chính Quảng Tây (Trung Quốc) và các đối tác quốc tế tổ chức.

Hoàn thiện hành lang pháp lý là yêu cầu tất yếu

Một trong những tham luận thu hút nhiều sự quan tâm tại hội thảo là nghiên cứu của TS Đào Đình Khả, nguyên Vụ trưởng Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), hiện là giảng viên cao cấp Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội.

TS Đào Đình Khả, nguyên vụ trưởng Vụ Công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Như Hiền.

Trong nghiên cứu "Phân tích khung pháp lý về tài sản số tại Việt Nam: Những khoảng trống và khuyến nghị hướng tới tiêu chuẩn quốc tế", TS Đào Đình Khả cho rằng dữ liệu không còn đơn thuần là đầu vào của quá trình sản xuất mà đã trở thành một loại tài sản mới có thể được xác định, phân chia và giao dịch thông qua cơ chế token hóa.

Theo ông, mục tiêu đưa kinh tế số đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2030 đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng khuôn khổ pháp lý đủ mạnh, đồng thời cân bằng giữa yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro.

Phân tích sâu hơn tại hội thảo, TS Đào Đình Khả cho rằng trong bối cảnh Việt Nam mong muốn thu hút thêm nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho tài sản số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Khi thị trường mở cửa, Việt Nam cũng phải chấp nhận những rủi ro nhất định, trong đó có nguy cơ các tổ chức, cá nhân nước ngoài nắm giữ tài sản hoặc quyền lợi liên quan đến tài sản số. Điều này đòi hỏi phải xây dựng cơ chế quản trị phù hợp để vừa bảo đảm an toàn, vừa tạo điều kiện cho thị trường phát triển.

Chuyên gia này cho rằng quản trị tài sản số có ý nghĩa quan trọng không kém việc hoàn thiện hành lang pháp lý. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Singapore cho thấy, bên cạnh hệ thống pháp luật, các nước còn xây dựng cơ quan chuyên trách về quản trị rủi ro, giám sát thị trường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đây là những mô hình Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình xây dựng hệ thống quản trị tài sản số.

Từ việc so sánh mô hình quản lý của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) và Quy định về Thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu, nhóm nghiên cứu chỉ ra ba yếu tố cốt lõi của một hệ thống quản lý hiệu quả gồm: xác định rõ địa vị pháp lý của tài sản số; áp dụng cơ chế giám sát thị trường dựa trên công nghệ; và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) với lộ trình minh bạch từ giai đoạn thử nghiệm đến cấp phép chính thức.

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế ngày 25/6.

Theo TS Đào Đình Khả, Việt Nam đã có bước tiến quan trọng khi ban hành Luật Công nghiệp công nghệ số, song khuôn khổ pháp lý vẫn còn mang tính phân mảnh và năng lực thực thi cần tiếp tục được hoàn thiện. Một khoảng trống lớn hiện nay là tài sản số chưa được tích hợp đầy đủ trong nhiều đạo luật nền tảng như Bộ luật Dân sự, pháp luật về thuế, thừa kế hay hôn nhân và gia đình. Điều này khiến việc xử lý các vấn đề như phân chia tài sản số trong thừa kế hoặc ly hôn vẫn chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng.

Để khắc phục những hạn chế đó, ông đề xuất ba nguyên tắc trong xây dựng chính sách gồm: quản lý phù hợp với bối cảnh phát triển; quản lý dựa trên rủi ro; và bảo đảm khả năng thích ứng trước tốc độ phát triển của công nghệ. Cùng với đó là ba nhóm giải pháp gồm hoàn thiện thể chế, mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và xây dựng hệ sinh thái hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu nhằm phát triển thị trường tài sản số chất lượng cao.

Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng đi cho Việt Nam

Từ góc nhìn về quản trị số, TS Jenny Katis, Trường Quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương (Australia), đánh giá Việt Nam đang nổi lên là một trong những nền kinh tế số năng động của Đông Nam Á nhờ sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, điện toán đám mây, thương mại điện tử và hạ tầng dữ liệu số.

Theo chuyên gia này, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện nhằm quản lý các hoạt động số, bảo đảm an ninh mạng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hỗ trợ phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, để hướng tới một hệ thống quản trị số hiện đại, Việt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, thương mại số xuyên biên giới, nâng cao năng lực thực thi và tăng khả năng thích ứng của hệ thống pháp luật trước tốc độ phát triển nhanh của công nghệ.

TS Jenny Katis cho rằng mục tiêu cuối cùng là xây dựng mô hình quản trị số cân bằng giữa đổi mới sáng tạo, an ninh quốc gia, niềm tin của nhà đầu tư và hội nhập quốc tế. Đây cũng là định hướng mà nhiều quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang theo đuổi trong quá trình phát triển nền kinh tế số.

PGS.TS Sergey A. Perekhod, Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga phát biểu tại hội thảo.

Trong khi đó, PGS.TS Sergey A. Perekhod, Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga, giới thiệu mô hình token hóa tài sản thực thông qua chứng chỉ lưu ký được mã hóa dành cho cổ phiếu Nga.

Theo ông, trước năm 2022, chứng chỉ lưu ký ADR và GDR là kênh quan trọng giúp doanh nghiệp Nga tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Tuy nhiên, các lệnh trừng phạt đã khiến cơ chế này gần như ngừng hoạt động.

Vì vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình chứng chỉ lưu ký được token hóa, trong đó cổ phiếu cơ sở vẫn được lưu ký trong nước, còn quyền sở hữu được số hóa trên nền tảng blockchain. Hợp đồng thông minh sẽ hỗ trợ định danh nhà đầu tư, kiểm soát tuân thủ, thực hiện quyền cổ đông và thanh toán.

Theo PGS.TS Sergey A. Perekhod, token hóa không nhằm né tránh các lệnh trừng phạt mà là giải pháp tái cấu trúc hạ tầng tài chính theo hướng minh bạch, an toàn và tuân thủ pháp luật. Để mô hình này vận hành hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa pháp luật về tài sản tài chính số, pháp luật chứng khoán, cơ chế công nhận quốc tế đối với chứng khoán được token hóa và các tiêu chuẩn bảo vệ nhà đầu tư.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ