🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Phát triển văn hóa Việt Nam: Từ đột phá thể chế đến cơ chế thực thi

7 giờ trước
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam thể hiện rõ nỗ lực đổi mới tư duy quản lý, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hiện đại. Tuy nhiên, để Nghị quyết khi được Quốc hội thông qua thực sự đi vào cuộc sống, nhiều nội dung cần tiếp tục hoàn thiện cả về kỹ thuật lập pháp lẫn cơ chế thực thi.

Cơ chế phải đủ rõ ràng để tạo niềm tin thị trường

Điều 4, dự thảo Nghị quyết được xem là “trục xương sống” trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, khi đặt trọng tâm vào xây dựng khung pháp lý và các chính sách ưu đãi nhằm thu hút nguồn lực xã hội. Điểm đáng chú ý là sự xuất hiện của các mô hình mới như cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa hay tổ hợp sáng tạo, kể cả trên nền tảng chuyển đổi công năng từ các nhà máy cũ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng quốc tế, vừa tận dụng tài sản sẵn có, vừa tạo không gian cho sáng tạo và đổi mới.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày báo cáo thẩm tra Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 20/4/2026. Ảnh: Quang Khánh

Không dừng lại ở đó, các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế và tài chính cũng được thiết kế theo hướng mở, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân và thúc đẩy các ngành có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa hay công nghệ cao trong lĩnh vực văn hóa. Cùng với đó, việc giao các thiết chế văn hóa cơ sở cho cộng đồng tự quản cho thấy một bước tiến trong tư duy quản trị - từ mô hình “Nhà nước làm” sang “Nhà nước kiến tạo, xã hội vận hành”.

Những quy định này phản ánh rõ sự chuyển dịch từ tư duy “làm văn hóa” sang “quản trị phát triển công nghiệp văn hóa”, trong đó văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra tăng trưởng. Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, các ưu đãi thuế như miễn trong 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo được kỳ vọng sẽ trở thành “đòn bẩy” thu hút dòng vốn từ khu vực tư nhân và các tập đoàn công nghệ lớn.

Để những chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, vấn đề then chốt vẫn nằm ở mức độ cụ thể và minh bạch của quy định. Trước hết, các mô hình như “khu công nghiệp sáng tạo văn hóa” cần có bộ tiêu chí rõ ràng. Nếu thiếu tiêu chuẩn định lượng, nguy cơ bị lợi dụng để phát triển bất động sản thương mại dưới “vỏ bọc” văn hóa là hoàn toàn có thể xảy ra. Đồng thời, việc ưu tiên chuyển đổi các di sản công nghiệp - như nhà máy cũ tại đô thị lớn - thành không gian sáng tạo cần được quy định cụ thể để vừa bảo tồn giá trị lịch sử, vừa khai thác hiệu quả kinh tế.

ĐBQH Thạch Phước Bình (Vĩnh Long)

Ở khía cạnh tiếp cận đất đai, dù việc dẫn chiếu tới các chính sách hiện hành là cần thiết, nhưng vẫn cần bảo đảm tính tương thích với hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Đất đai. Với đặc thù ngành văn hóa có thời gian hoàn vốn dài, việc bổ sung cơ chế thuê đất dài hạn với điều kiện ưu đãi là yếu tố quan trọng để tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Chính sách thuế cũng cần được thiết kế rõ ràng hơn. Việc miễn thuế cho chuyên gia là một điểm tích cực, nhưng cần mở rộng khái niệm “chuyên gia văn hóa” để bao gồm cả nghệ sĩ, giám tuyển hay nhà quản lý sáng tạo. Đồng thời, mức thuế suất sau giai đoạn ưu đãi cũng nên được quy định cụ thể nhằm nâng cao tính cạnh tranh trong khu vực.

Đối với mô hình cộng đồng tự quản thiết chế văn hóa, đây là hướng đi hiện đại nhưng không thể “khoán trắng”. Thực tế cho thấy nhiều cộng đồng còn hạn chế về năng lực quản lý và nguồn lực tài chính. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ từ Nhà nước, đồng thời cho phép khai thác các dịch vụ đi kèm để tạo nguồn thu tái đầu tư.

Từ “cởi trói” chính sách đến yêu cầu đồng bộ pháp luật

Điều 5, dự thảo Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa, khi thay vì phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước, chính sách bắt đầu hướng mạnh sang khơi thông nguồn lực xã hội thông qua các cơ chế ưu đãi cụ thể về thuế, đất đai và tài chính. Đây được xem là chìa khóa để thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển theo hướng thị trường.

Một trong những điểm đáng chú ý là việc áp dụng mức thuế giá trị gia tăng 5% đối với các hoạt động như điện ảnh, triển lãm, thể thao và biểu diễn nghệ thuật. Chính sách này tác động trực tiếp đến “đầu ra” của sản phẩm văn hóa, góp phần giảm giá thành dịch vụ và mở rộng khả năng tiếp cận của người dân. Tuy nhiên, để tránh bị lạm dụng, phạm vi “biểu diễn nghệ thuật” cần được định nghĩa rõ ràng, đặc biệt là phân biệt giữa các loại hình nghệ thuật sáng tạo với các dịch vụ giải trí thương mại thuần túy.

Cơ chế hồi hương cổ vật và tác phẩm nghệ thuật được đánh giá là một bước đột phá. Việc miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu và các chi phí liên quan không chỉ tạo động lực cho các nhà sưu tập tư nhân mà còn góp phần ngăn chặn tình trạng “chảy máu” di sản. Tuy vậy, hiệu quả của chính sách này phụ thuộc lớn vào thủ tục hành chính. Nếu quy trình xác nhận mục đích phi lợi nhuận không được đơn giản hóa, các nhà sưu tập khó có thể tham gia kịp thời vào các phiên đấu giá quốc tế vốn đòi hỏi tính nhanh nhạy. Đồng thời, cũng cần làm rõ cơ chế chuyển nhượng sau đó, trong đó nên cân nhắc quyền ưu tiên mua lại của Nhà nước đối với các hiện vật có giá trị đặc biệt.

Mô hình “đô thị di sản” nếu được đưa vào thí điểm sẽ mở ra hướng tiếp cận mới trong khai thác giá trị văn hóa gắn với phát triển kinh tế. Nguồn: hoangthanhthanglong.vn

Mô hình “đô thị di sản” được đưa vào thí điểm cũng mở ra hướng tiếp cận mới trong việc khai thác giá trị văn hóa gắn với phát triển kinh tế. Việc trao quyền chủ động cho địa phương sẽ giúp các khu vực giàu di sản như Huế hay Hội An linh hoạt hơn trong thu hút đầu tư. Tuy nhiên, nếu thiếu một bộ tiêu chí thống nhất từ Trung ương, việc triển khai có thể thiếu đồng bộ. Quan trọng hơn, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để bảo đảm rằng việc khai thác không làm biến dạng hay xâm hại các giá trị di sản vốn là nền tảng của chính sách này.

Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bố trí quỹ đất và tận dụng trụ sở công dôi dư được xem là giải pháp trực tiếp tháo gỡ “nút thắt” về mặt bằng cho các hoạt động văn hóa. Việc ưu tiên quỹ đất ở cấp xã góp phần thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền. Tuy nhiên, cơ chế cho thuê cần được thiết kế minh bạch, có thể thông qua đấu giá nhưng với mức giá ưu đãi dành riêng cho mục đích văn hóa. Đồng thời, chính sách miễn giảm hiện nay nếu chỉ áp dụng cho các đơn vị nhà nước sẽ tạo ra sự thiếu công bằng, do đó cần xem xét mở rộng cho cả khu vực tư nhân tham gia các nhiệm vụ văn hóa mang tính công ích.

Chuyển đổi số - nền tảng cho “hệ sinh thái sáng tạo”

Điều 10, dự thảo Nghị quyết được xem là mang tính “thời đại” nhất, khi đặt chuyển đổi số vào trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa. Không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ, chính sách này hướng tới xây dựng một nền tảng hạ tầng số đồng bộ, từ cơ sở dữ liệu quốc gia, số hóa di sản cho đến phát triển các mô hình thiết chế văn hóa mới và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng.

Trọng tâm của Điều 10 là ưu tiên đầu tư cho hạ tầng số - yếu tố được xem là “phần ruột” còn thiếu của nhiều thiết chế văn hóa hiện nay. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung và thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) không chỉ giúp tối ưu nguồn lực mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa hiện đại. Đồng thời, chính sách bảo đảm kinh phí số hóa di sản cấp quốc gia cho thấy nỗ lực bảo tồn văn hóa trong một hình thức mới - nơi giá trị truyền thống được lưu giữ và lan tỏa bằng công nghệ.

Tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) ứng dụng công nghệ mang lại trải nghiệm mới cho du khách. Ảnh: VMQTG

Bên cạnh đó, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và thu hút các tập đoàn lớn tham gia lĩnh vực văn hóa là bước đi chiến lược, đặc biệt khi được kết nối với các ưu đãi về thuế và đầu tư ở các điều khoản trước. Điều này mở ra khả năng hình thành các sản phẩm văn hóa số có giá trị gia tăng cao, từ nội dung số đến các nền tảng phân phối.

Một điểm đáng chú ý khác là việc thí điểm các mô hình thiết chế văn hóa số như bảo tàng mở, thư viện số hay nhà hát di động. Đây là những hình thức tiếp cận mới, phù hợp với xu hướng tiêu dùng văn hóa hiện đại. Đồng thời, việc hình thành các trung tâm sáng tạo nội dung số cũng góp phần xây dựng lực lượng sáng tạo mới - những người làm nội dung trong kỷ nguyên số.

Đặc biệt, trong bối cảnh thông tin sai lệch về lịch sử, văn hóa ngày càng lan rộng trên không gian mạng, quy định về bảo vệ an ninh văn hóa và chủ quyền số là hết sức cần thiết. Việc ứng dụng công nghệ để giám sát và xử lý thông tin xấu độc không chỉ là biện pháp kỹ thuật mà còn là công cụ bảo vệ bản sắc văn hóa quốc gia.

Tuy nhiên, để các chính sách này thực sự hiệu quả, nhiều nội dung cần được cụ thể hóa. Trước hết, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia cần đi kèm với các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất và cơ chế liên thông giữa trung ương và địa phương. Nếu mỗi địa phương triển khai theo một cách riêng, nguy cơ “phân mảnh dữ liệu” sẽ làm giảm hiệu quả của toàn bộ hệ thống.

Ở khía cạnh hỗ trợ doanh nghiệp, bảo vệ bản quyền số vẫn là một trong những thách thức lớn nhất. Do đó, cần thiết lập các trung tâm hỗ trợ bản quyền số để cung cấp dịch vụ pháp lý và kỹ thuật cho nghệ sĩ, đặc biệt là những người hoạt động độc lập trên các nền tảng xuyên biên giới.

Về các mô hình thí điểm, bên cạnh bảo tàng số hay thư viện số, cần mở rộng sang các lĩnh vực có tiềm năng thương mại cao như du lịch thực tế ảo (VR/AR). Đây không chỉ là công cụ quảng bá hiệu quả mà còn tạo ra nguồn thu mới cho ngành văn hóa.

Đối với lực lượng sáng tạo nội dung số, việc xác định rõ đối tượng “người sáng tạo nội dung” là cần thiết để triển khai chính sách hỗ trợ. Các trung tâm sáng tạo cần đi kèm với hạ tầng mềm như không gian làm việc chung, hỗ trợ chi phí và môi trường kết nối để thúc đẩy khởi nghiệp văn hóa số.

Cuối cùng, trong việc xử lý thông tin xấu độc, cần thiết lập ranh giới rõ ràng giữa kiểm soát và khuyến khích sáng tạo. Một cơ chế phối hợp liên ngành, cùng với bộ tiêu chí minh bạch, sẽ giúp bảo đảm việc xử lý thông tin vừa chính xác, vừa không làm hạn chế các hoạt động sáng tạo hợp pháp.

Một vấn đề rất quan trọng là tiến độ ban hành các văn bản hướng dẫn. Nếu không có mốc thời gian cụ thể, nguy cơ chính sách chậm đi vào thực tế là rất lớn. Do đó, việc quy định thời hạn ban hành hướng dẫn - chẳng hạn trong vòng 90 ngày kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực - là cần thiết để bảo đảm tính đồng bộ và khả thi.

ĐBQH Thạch Phước Bình (Vĩnh Long)

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ