Những người giữ lửa trên trang Báo Quân khu Một xưa và nay

5 cây bút chính của Báo Quân khu Một năm 1983, từ trái qua: Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Duy Quyền, Nguyễn Tông, Đức Khang và Đặng Vương Hưng (ảnh chụp tại Bảo tàng Việt Bắc).
1- Từ vài cây bút giữa núi rừng đến một dòng chảy báo chí 80 năm
Ngày 19/8/1946, đúng một năm sau ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Báo Chiến khu xuất bản số đầu tiên tại Chiến khu 1. Đó không chỉ là ngày ra đời của một ấn phẩm báo chí. Nhìn từ khoảng cách 80 năm, có thể coi đó là ngày một “đơn vị chiến đấu” đặc biệt của quân và dân Việt Bắc được hình thành trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.
Việt Bắc khi ấy chưa có những tòa soạn với phòng làm việc đầy đủ tiện nghi. Không máy tính, không internet, không điện thoại thông minh, không những chiếc máy ảnh kỹ thuật số có thể truyền hình ảnh đi trong vài giây. Người làm báo phải đi bộ, theo đơn vị, tìm nhân vật, ghi chép rồi mang bản thảo vượt những chặng đường dài. Một trang báo phải đi qua rất nhiều mồ hôi trước khi đến được tay người lính. Thuở ban đầu ấy, lực lượng làm báo hết sức mỏng. Đồng chí Tạ Xuân Thu, Chính trị Ủy viên Chiến khu, làm Chủ nhiệm; đồng chí Lý Anh Đồng, tức Kỳ Ân, làm chủ bút. Sau đó mới có thêm Phạm Viên, Hàn Thế Long, Cao Nhị, Nhị Ca, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đức Toàn, Tô Ân, Lê Kim và những người cộng tác khác. Để có bài cho số báo đầu, cán bộ tòa soạn phải xuống các đơn vị, khai thác tư liệu, viết và biên tập, rồi đưa bản thảo về Nhà in Hàn Thuyên tại Hà Nội. Mỗi kỳ in tới 6.000 bản, phát hành ở cả Hà Nội và Chiến khu Việt Bắc.

Đội ngũ làm báo trong một sự kiện tại Quân khu 1, đầu thập niên 80.
Sáu nghìn tờ báo của năm 1946 hôm nay có thể chỉ là một con số, nhưng nếu đặt nó vào hoàn cảnh đất nước vừa giành độc lập, chiến tranh đang đến rất gần, đường sá và phương tiện vô cùng thiếu thốn, ta mới cảm nhận được sức nặng của từng trang giấy. Trên những trang báo ấy là tiếng nói của một chiến khu đang chuẩn bị bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến. Người lính đọc báo để biết hậu phương đang nghĩ gì về mình. Đồng bào đọc báo để hiểu bộ đội đang chiến đấu ra sao. Cán bộ đọc báo để chia sẻ những mô hình, kinh nghiệm. Một tờ báo nhỏ đã góp phần nối liền quân với dân, tiền tuyến với hậu phương, ý chí của người chỉ huy với tình cảm của đồng bào.
Sự ra đời của Báo Chiến khu được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó là Bí thư Trung ương Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng chỉ huy Quân đội, gửi thư chào mừng. Điều ông mong mỏi ở tờ báo rất giản dị mà lớn lao: góp sức xây dựng một chiến khu có nhân dân giác ngộ, bộ đội hùng cường và quân dân nhất trí. Có lẽ từ ngày ấy, sứ mệnh căn cốt của những người làm Báo Quân khu Một đã được xác lập: đứng trong đội hình của người lính nhưng phải biết nhìn xa hơn đội hình; sống giữa nhân dân nhưng phải nghe được những điều sâu kín trong lòng dân; viết về chiến công nhưng không quên những hy sinh thầm lặng làm nên chiến công.
Tờ báo đi qua chiến tranh cũng giống như người lính Việt Bắc đi qua chiến tranh: vừa chiến đấu, vừa trưởng thành, nhiều lần đổi tên nhưng không đổi lý tưởng. Báo Chiến khu trở thành Việt Bắc Quyết chiến khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên căn cứ địa. Đến Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, tờ báo mang tên Bắc Sơn, gợi lại khí phách của cuộc khởi nghĩa năm 1940. Khi cả nước dồn sức cho Điện Biên Phủ, Bắc Sơn đổi thành Giữ Nước. Sau năm 1954 là Quân Việt Bắc, rồi Chiến sĩ Quân khu 1, để sau những biến đổi về tổ chức quân khu trở thành Báo Quân khu 1 như hôm nay. Những tên gọi ấy giống những dấu mốc trên một con đường hành quân. Mỗi lần thay tên là một lần đất nước bước sang một hoàn cảnh mới, nhưng đội ngũ những người cầm bút vẫn ở đó, đi bên cạnh người lính.
2- Những cây bút đã viết bằng cả bước chân người lính
Điều làm nên truyền thống của một tờ báo quân đội không chỉ là tuổi đời. Tám mươi năm sẽ chỉ là một con số nếu phía sau nó không có những con người. Báo Quân khu Một có quyền tự hào về một đội ngũ cây bút mà nhiều người trước hết là những người lính. Họ hiểu tiếng súng bởi từng sống giữa tiếng súng; hiểu thao trường bởi từng lấm bụi thao trường; hiểu cái rét của biên giới bởi từng ngủ trong những căn lán biên cương; hiểu nỗi nhớ nhà của chiến sĩ bởi trong ba lô của chính họ cũng từng có những lá thư quê.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên trang nhất của các số báo Quân Việt Bắc thường nổi bật khẩu hiệu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhưng giá trị của tờ báo không chỉ nằm ở những khẩu hiệu. Phía dưới những dòng chữ lớn ấy là một thế giới sống động của chiến trường và hậu phương. Những phóng viên như Triệu Bôn, Văn Kháng, Đức Kiên, Trần Ngọc… đã mang tới những bài viết về người chiến sĩ pháo binh, người lính trên Đường 9, những chiến công sau ngày vào Đảng, những lá thư và những dòng máu từ hậu phương gửi tới tiền tuyến. Có những nhan đề qua hàng chục năm đọc lại vẫn nghe như tiếng người từ một thời đạn lửa: Người con trai của dân tộc Sán Chỉ trên mâm pháo; Tiếng nổ giữa lòng địch; Trai Việt Bắc trên đường số 9 Anh hùng; Chiến công sau ngày vào Đảng; Bức thư từ quê nhà; Dòng máu hậu phương; Quà hậu phương gửi ra tiền tuyến...

Nghị quyết về việc kết nạp Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam do Tổng thư ký Đào Tùng ký, xác nhận các Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam tại Báo Quân khu Một, từ ngày 8/8/1983.
Người viết báo quân đội khi ấy khó có thể chỉ đứng ở phía sau. Muốn viết về một trận đánh, phải đến nơi có trận đánh; muốn viết về người lính trên điểm tựa, phải trèo lên điểm tựa; muốn biết một đại đội vừa trải qua đêm chiến đấu như thế nào, nhiều khi phải ngủ cùng chiến hào với họ. Vì thế, trong nghề báo quân đội có một thứ tài sản quý hơn mọi kỹ thuật làm báo: vốn sống của người lính.
Đến cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, phẩm chất ấy càng được thử thách dữ dội. Đó là thời của những phóng viên Nguyễn Bá Đàn, Nguyễn Duy Quyền, Đức Khang, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Văn Tông, Nguyễn Quốc Trí, Đinh Hồng Phước, Hoàng Thiềng, Ma Đình Việt, Ngô Văn Học… Một thế hệ phóng viên chiến trường đông đảo, bám đơn vị, bám biên giới, tác nghiệp trong một hoàn cảnh mà giữa nơi viết và nơi đạn pháo rơi nhiều khi chỉ cách nhau một sườn núi.
Những người làm báo ấy không ra trận để trở thành nhân vật. Họ ra trận để tìm nhân vật. Nhân vật của họ là người chiến sĩ sống trong hầm đá mùa đông, người lính đứng gác trên một điểm cao quanh năm mây phủ, cô dân quân, người mẹ, người chị gùi lương thực lên chốt, người thương binh vừa trở về tuyến sau đã hỏi tình hình đồng đội, hay những người dân phía sau vẫn gửi từng cân chè, tấm áo, lá thư cho những người đang giữ biên cương. Các chuyên mục khi đó mang chính nhịp đập của chiến trường: Quyết tâm bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc; Trận địa là nhà, biên giới là quê hương; Tất cả vì điểm tựa tiền tiêu.
Nhưng đằng sau mỗi cái tít mạnh mẽ ấy là vô vàn chi tiết rất đời thường: một bát cơm nguội trên chốt, một lá thư chưa kịp gửi, đôi dép cao su dính đầy bùn đỏ, một đêm pháo sáng, lời hẹn về phép chưa biết bao giờ thực hiện, hay một người lính ngã xuống mà trong túi áo vẫn còn tấm ảnh gia đình. Báo chí chiến trường có giá trị không chỉ vì nó ghi lại chiến công. Nó quý bởi nhờ nó, lịch sử còn giữ được gương mặt con người. Và đó có lẽ là điều đáng trân trọng nhất trong di sản các thế hệ cây bút Báo Quân khu Một: họ không chỉ viết lịch sử của những đơn vị mà còn giữ lại những mảnh đời nằm phía sau lịch sử.
Có người sau này trở thành nhà văn, có người trở thành những nhà báo được bạn đọc biết tới ở nhiều cơ quan báo chí khác, có người dành cả cuộc đời gắn bó với một tòa soạn quân khu. Có những tên tuổi hôm nay lớp trẻ chỉ còn gặp trong những tập báo cũ. Nhưng tác phẩm của họ vẫn còn. Mực có thể phai, giấy báo có thể úa vàng, nhưng một chi tiết chân thực về người lính thì rất khó cũ. Bởi chiến tranh nào rồi cũng trở thành quá khứ, còn tình người thì ở lại.
3- Khi chiến trường lùi xa, người làm báo vẫn đi về phía gian khó
Hòa bình không khiến người phóng viên quân đội ít phải lên đường hơn, chỉ có những cuộc lên đường đổi khác. Thay vì chạy theo một đơn vị ra trận, họ tới thao trường trong những ngày nắng cháy; thay vì những điểm cao hứng pháo, họ đến những bản làng xa xôi; thay vì đưa tin một trận đánh, họ theo bộ đội cứu dân giữa lũ quét, sạt lở, cháy rừng, dịch bệnh.
Những năm gần đây, phóng viên Báo Quân khu Một vẫn thường xuyên có mặt trên thao trường, bãi tập, biên giới, vùng sâu, vùng xa; theo sát những hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác dân vận, phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của lực lượng vũ trang Quân khu. Đầu năm 2020, khi COVID-19 xuất hiện, người lính lại bước vào một cuộc chiến mới không tiếng súng. Những khu cách ly được dựng lên, những bệnh viện dã chiến hoạt động ngày đêm, bộ đội nhường doanh trại, nhường giường cho dân, gùi cơm, trực chốt, vận chuyển nhu yếu phẩm. Và những người làm Báo Quân khu Một lại có mặt, không phải để tìm một câu chuyện giật gân, mà để tìm những con người đang âm thầm chịu phần khó về mình.

Chân dung Thiếu uý, Nhà báo Đặng Vương Hưng, thời làm Báo Quân khu Một, đầu năm 1983.
Có khi một bức ảnh người chiến sĩ mang cơm tới khu cách ly còn nói được nhiều hơn một bài diễn văn. Có khi vài câu chuyện nhỏ về một bác sĩ quân y thức trắng đêm lại giúp bạn đọc hiểu sâu hơn thế nào là lời thề của người lính trong thời bình. Rồi những mùa bão lũ, Việt Bắc vốn là vùng núi nhiều sông suối, mỗi khi mưa lớn có thể xuất hiện những bản làng bị cô lập, những con đường biến mất dưới đất đá, những căn nhà chìm sâu trong nước. Nơi bộ đội đến cứu dân, người làm báo quân khu lại đi theo. Có phóng viên lội nước, có người bám xuồng, có người đội mưa giữ máy, có lúc vừa tác nghiệp vừa cùng bộ đội giúp dân đưa tài sản và người già, trẻ nhỏ ra khỏi vùng nguy hiểm.
Đó là lúc ranh giới giữa người làm báo và người lính gần như không còn. Họ làm nghề, nhưng trước hết vẫn là quân nhân. Chính điều ấy khiến báo chí quân đội có một giọng điệu riêng: có sự chính xác của báo chí nhưng cũng có độ ấm của tình đồng đội; có tính chiến đấu nhưng không khô cứng; phản ánh nhiệm vụ quân sự nhưng phía sau những nhiệm vụ ấy bao giờ cũng thấp thoáng đời sống, tình yêu quê hương và nhân dân.
Nếu lớp phóng viên chiến tranh để lại những trang báo còn vương khói súng, thì lớp phóng viên hôm nay đang viết những trang báo thấm mồ hôi thao trường và bùn đất của những chuyến cứu dân. Đó là sự tiếp nối rất tự nhiên, bởi người làm Báo Quân khu Một chưa bao giờ chỉ ngồi trong phòng làm việc để nghĩ về người lính. Họ phải đi đến tận nơi, nhìn tận mắt, nghe tận tai, sống cùng nhân vật, hiểu điều nhân vật đã trải qua rồi mới viết. Những bài báo có sức sống lâu bền thường bắt đầu từ chính những bước chân như thế.
4- Từ cây bút, máy ảnh đến người làm báo đa phương tiện
Tám mươi năm trước, Báo Chiến khu phải chuyển bản thảo về Hà Nội để in. Tám mươi năm sau, một phóng viên Báo Quân khu Một có thể đứng trên điểm cao biên giới, quay video, chụp ảnh, viết tin và truyền dữ liệu về tòa soạn trong thời gian rất ngắn. Khoảng cách giữa hai thời điểm ấy là cả một cuộc cách mạng công nghệ. Nhưng điều thú vị là càng thay đổi công nghệ, người ta càng nhận rõ những giá trị không thể thay đổi.
Năm 2019, Báo Quân khu 1 điện tử chính thức đi vào hoạt động, mở thêm một không gian mới để tiếng nói của lực lượng vũ trang Việt Bắc đến nhanh hơn, xa hơn với bạn đọc. Từ chỗ mỗi phóng viên chủ yếu cầm một cây bút, một cuốn sổ rồi mang máy ảnh, người làm báo hôm nay phải học cách trở thành một “tòa soạn thu nhỏ”: vừa viết, chụp, quay, dựng, vừa biết sử dụng đồ họa, mạng xã hội và kể một câu chuyện theo nhiều định dạng khác nhau.
Trong tiến trình chuyển đổi số báo chí, Báo Quân khu Một đã ứng dụng công nghệ số, số hóa sản phẩm, từng bước đưa trí tuệ nhân tạo vào một số công đoạn biên tập, xử lý kỹ thuật, trình bày; đồng thời phát triển hoạt động truyền thông trên các nền tảng số. Nhưng máy móc có thể hỗ trợ kỹ thuật chứ không thể thay người phóng viên sống một cuộc đời cùng nhân vật. Trí tuệ nhân tạo có thể giúp xử lý dữ liệu nhưng không thể thay cái bắt tay của người phóng viên với một cựu chiến binh. Một chiếc máy ảnh hiện đại có thể ghi hàng chục khuôn hình trong một giây, nhưng người đứng sau máy vẫn phải biết khoảnh khắc nào đáng giữ. Công nghệ có thể đưa tin đi nhanh hơn, còn sự tin cậy vẫn phải được tạo nên bằng nhân cách người làm báo.

Khi phóng viên báo Quân khu Một đến với chiến sĩ tại mặt trận biên giới 1979 - 1989. ↵
Đó cũng là thử thách lớn của lớp nhà báo quân đội hôm nay. Nếu thế hệ trước phải vượt qua bom đạn để đưa thông tin đến bạn đọc, thì thế hệ hiện tại phải vượt qua một “biển thông tin” khổng lồ để đưa tới công chúng những điều xác thực, nhân văn và có ích. Trên không gian mạng, một thông tin sai có thể lan rất nhanh, một hình ảnh bị bóp méo có thể gây hiểu lầm, một câu chuyện thiếu kiểm chứng có thể làm tổn thương người khác. Bởi vậy, người làm báo quân đội trong kỷ nguyên số càng cần bản lĩnh của người lính: không chạy theo sự ồn ào, không đánh đổi sự thật lấy lượt xem, không biến sự hy sinh của đồng đội thành thứ để câu kéo cảm xúc, không để tốc độ thắng sự chính xác và không bao giờ quên phía sau mỗi nhân vật là một con người.
5- Một tờ báo lớn lên nhờ cả một đội hình
Nhắc đến Báo Quân khu Một cũng không thể chỉ nhắc đến những phóng viên chuyên nghiệp. Trong lịch sử của mình, tờ báo còn được nuôi dưỡng bởi một đội ngũ cộng tác viên rộng khắp ở các đơn vị. Họ có thể là cán bộ chính trị, người chỉ huy, chiến sĩ, cán bộ địa phương – những người trực tiếp sống trong thực tiễn và gửi về tòa soạn những câu chuyện từ cơ sở. Báo cũng phối hợp với nhiều cơ quan báo chí Trung ương, Quân đội và địa phương để lan tỏa thông tin về lực lượng vũ trang Quân khu đến bạn đọc cả nước.
Chương trình sử thi nghệ thuật: QUÂN KHU 1 - 80 năm vang mãi bản hùng ca.
Nhìn ở góc độ ấy, tòa soạn Báo Quân khu Một thực ra rộng hơn nhiều so với mấy căn phòng làm việc. “Tòa soạn” có thể nằm trên một điểm tựa biên giới, ở một đại đội đang huấn luyện, trong căn nhà vừa được bộ đội giúp dân dựng lại sau bão, trên con đường tuần tra biên giới, trong ký ức của một cựu chiến binh hay bên bếp lửa của một gia đình đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông giữa núi rừng Việt Bắc. Mỗi người cộng tác với báo là thêm một đôi mắt, mỗi đơn vị là thêm một nguồn câu chuyện, mỗi chiến sĩ có thể trở thành nhân vật, và mỗi người dân trên địa bàn cũng có thể trở thành một phần ký ức của tờ báo.
Nhờ thế, tám mươi năm lịch sử Báo Quân khu Một không chỉ nằm trong kho lưu trữ mà còn nằm trong trí nhớ của quân và dân Việt Bắc. Một tờ báo quân đội chỉ thật sự có sức sống khi người lính tìm thấy mình trong đó, người chỉ huy tìm thấy kinh nghiệm cần chia sẻ, nhân dân nhận ra hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ gần gũi với đời sống của mình, còn những cựu chiến binh có thể đọc lại những trang báo để gặp lại đồng đội và một thời tuổi trẻ.
6- Còn ngọn lửa Việt Bắc thì trang báo vẫn còn trẻ
Ngày 30/11/1985, Báo Quân khu 1 được tặng Huân chương Quân công hạng Nhì. Nhiều năm tờ báo đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng, nhận các hình thức khen thưởng của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và nhiều cấp, ngành, địa phương. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, đơn vị tiếp tục được ghi nhận bằng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Những phần thưởng ấy đáng tự hào, nhưng có lẽ phần thưởng lớn hơn đối với những người làm báo là khi một người lính nhận ra đơn vị mình trong trang báo; một người mẹ vùng cao tìm thấy hình ảnh con trai; một cựu chiến binh đọc một bài viết rồi nhớ lại đồng đội; một thế hệ trẻ hiểu rằng những vùng đất bình yên họ đang sống từng được gìn giữ bằng biết bao máu xương.
Báo chí, suy cho cùng, cũng là một hình thức lưu giữ ký ức, và người làm báo là người giữ ký ức cho cộng đồng. Tám mươi năm, đội ngũ các cây bút Báo Quân khu Một đã làm công việc ấy bằng một cách rất riêng. Những người đi trước viết trong căn lán giữa rừng, thế hệ sau viết trong chiến hào biên giới, lớp hôm nay viết trên máy tính, dựng video, vận hành báo điện tử và bước vào không gian số. Phương tiện khác nhau, thời đại khác nhau, nhưng trong những người làm báo ấy có một điểm chung: họ đều trưởng thành từ cái nôi Việt Bắc cách mạng và cái nôi của một tờ báo sinh ra để phục vụ người lính và nhân dân.
Từ Tạ Xuân Thu, Lý Anh Đồng của buổi đầu gian khó; đến Triệu Bôn, Văn Kháng, Đức Kiên, Trần Ngọc trong những năm chống Mỹ; đến Nguyễn Bá Đàn, Nguyễn Duy Quyền, Đức Khang, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Văn Tông, Nguyễn Quốc Trí, Đinh Hồng Phước, Hoàng Thiềng, Ma Đình Việt… của những năm tháng biên giới; rồi những phóng viên trẻ hôm nay đang mang máy quay, máy ảnh, máy tính theo bước chân bộ đội – đó là một đội hình kéo dài qua tám thập niên. Trong đội hình ấy, có người còn, người mất; có người đã rời nghề; có người tóc bạc; có người từng là phóng viên trẻ, nay đã thành một phần ký ức của tờ báo; và có những người hôm nay mới bắt đầu chuyến công tác đầu tiên của đời báo chí.
Lớp phóng viên trẻ hôm nay chưa từng biết thế nào là một tòa soạn phải chuyển bản thảo về Nhà in Hàn Thuyên như năm 1946. Nhưng nếu một ngày họ khoác ba lô lên biên giới, ngồi trong căn nhà của một gia đình vừa qua lũ, nghe người lính kể chuyện rồi thức đêm để hoàn thành bài viết, thì trong khoảnh khắc ấy, khoảng cách tám mươi năm dường như không còn nữa. Người phóng viên trẻ ấy đang làm đúng công việc mà lớp cha anh từng làm: đi đến nơi gian khó, tìm những con người bình dị, ghi lại sự thật và đưa sự thật ấy đến với nhân dân.
Có lẽ vì thế mà một tờ báo tám mươi tuổi vẫn có thể rất trẻ. Bởi mỗi thế hệ lại mang đến những câu chuyện mới, mỗi thời đại lại đặt ra những thử thách mới và mỗi người cầm bút lại phải tự viết thêm phần của mình vào lịch sử tờ báo. Tám mươi năm trước, Báo Chiến khu ra đời giữa Việt Bắc – “cái nôi” của cách mạng Việt Nam – với một niềm tin giản dị rằng trang báo có thể góp phần làm cho quân mạnh hơn, dân hiểu nhau hơn và quân dân thêm gắn bó. Tám mươi năm sau, Báo Quân khu Một vẫn đang thực hiện sứ mệnh ấy trong một diện mạo mới: chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn, đa phương tiện hơn, nhưng vẫn lấy người lính và nhân dân làm trung tâm.
Nếu có một hình ảnh để nói về 80 năm Báo Quân khu Một, có lẽ đó không chỉ là chồng báo đã ngả màu trong phòng truyền thống, mà là hình ảnh một đoàn người đang nối nhau đi trên con đường Việt Bắc. Người phía trước mang cuốn sổ đã sờn mép; người tiếp theo đeo chiếc máy ảnh của một thời chiến tranh; người sau nữa khoác ba lô, cầm máy quay; người trẻ nhất mang theo chiếc máy tính nhỏ có thể kết nối với cả thế giới. Họ đi qua Bắc Sơn, qua những năm tháng kháng chiến, qua Điện Biên Phủ, qua chiến trường chống Mỹ, những điểm tựa biên giới, rồi đến thao trường, bản làng, khu cách ly, vùng lũ và không gian số hôm nay.
Tám mươi năm, phương tiện làm báo đã đổi thay đến mức những người mở tờ Báo Chiến khu đầu tiên có lẽ khó hình dung nổi. Nhưng ngọn lửa trong lòng người cầm bút thì vẫn vậy: ngọn lửa của người lính, ngọn lửa của Việt Bắc và ngọn lửa của những người làm báo luôn biết mình viết cho ai, đứng về phía ai và vì điều gì. Chừng nào ngọn lửa ấy còn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, những trang Báo Quân khu Một vẫn còn trẻ mãi trên hành trình đồng hành cùng quân và dân Việt Bắc.
Thái Nguyên, chiều 18/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Nguyên Biên tập - Phóng viên Báo Quân khu Một, 1983 - 1990)
Đặng Vương Hưng
53 phút trước
58 phút trước
11 phút trước
1 giờ trước
22 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
26 phút trước
27 phút trước
29 phút trước
30 phút trước
32 phút trước
50 phút trước
54 phút trước
55 phút trước