🔍
Chuyên mục: Xã hội

Nhân Ngày Dân số Thế giới 11/7: Đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần người lao động

6 giờ trước
Một bộ phận lao động trẻ trong khu công nghiệp, đặc biệt là lao động nữ vẫn chưa thực sự quan tâm đến sức khỏe sinh sản do hạn chế về thời gian, thông tin và điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế. Điều này đặt ra yêu cầu cần tăng cường truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ phù hợp, giúp họ chủ động chăm sóc sức khỏe, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Anh Hoàng Văn Tín, quê ở xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, công nhân một công ty tại Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn cho biết doanh nghiệp duy trì khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần và khám bệnh nghề nghiệp khoảng 3 tháng một lần. Theo anh, các nội dung này cơ bản đáp ứng nhu cầu theo dõi sức khỏe chung.

Tuy nhiên, dù là khám sức khỏe định kỳ hay khám bệnh nghề nghiệp, nội dung về sức khỏe sinh sản gần như chưa được đưa vào các đợt khám. do đó, người lao động vẫn chủ yếu tìm kiếm dịch vụ khám sức khỏe sinh sản từ các bệnh viện, phòng khám khi cần.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khám sàng lọc trước khi tiêm vắc-xin phòng bệnh tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh.

Bản thân anh Tín và vợ - cũng là công nhân - chưa từng chủ động khám sức khỏe sinh sản, chủ yếu do thiếu thông tin và chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ phù hợp ngay tại nơi làm việc. Theo anh, phần lớn công nhân trẻ là người ngoại tỉnh, sống trong các khu trọ với thu nhập chỉ đủ trang trải. Việc tiếp cận dịch vụ y tế chuyên sâu vì thế càng hạn chế, nhất là với những nội dung còn bị xem là “khó nói”.

Cùng thực tế này, chị Nguyễn Thị Ngọc Vân, công nhân tại một doanh nghiệp điện tử trong Khu công nghiệp Quang Châu, cho biết do làm việc theo ca, thời gian kéo dài nên chị ít quan tâm đến sức khỏe sinh sản. Theo chị Vân, phần lớn nữ công nhân còn trẻ, nhiều người chưa lập gia đình nên kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế và thông thường nhu cầu khám sức khỏe chỉ phát sinh khi đã có dấu hiệu bất thường.

Trong khi đó, chị Bùi Thị Tuyết, công nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn SPHERE (Cụm công nghiệp Bố Hạ) cho rằng đây là vấn đề tế nhị nên nhiều chị em thường lựa chọn tự đi khám ngoài giờ tại các cơ sở y tế gần nơi làm việc.

Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất không do thiếu dịch vụ mà nằm ở khả năng tiếp cận của người lao động. Điều kiện về thời gian, thu nhập và môi trường làm việc cùng với tâm lý e ngại và thiếu thông tin khiến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản dễ bị trì hoãn hoặc bỏ qua.

Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đang thu hút khoảng 570 nghìn lao động làm việc tại các khu, cụm công nghiệp trong tỉnh. Trong đó, lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn, phần lớn dưới 35 tuổi, thuộc nhóm tuổi cần được quan tâm về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và làm mẹ an toàn. Đây là lực lượng lao động quan trọng, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội song cũng là nhóm dễ bị tổn thương về sức khỏe sinh sản do áp lực công việc, điều kiện sống và hạn chế tiếp cận dịch vụ y tế.

Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Văn Thành, Phó trưởng Khoa Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Bắc Ninh cho biết, ngành Y tế tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản như: Quản lý thai nghén, khám thai định kỳ, phát hiện sớm nguy cơ; tư vấn kế hoạch hóa gia đình; khám, điều trị bệnh phụ khoa; xét nghiệm phát hiện bệnh lây truyền qua đường tình dục; tư vấn, xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai; tổ chức truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản… Nhờ đó, một số chỉ số đạt kết quả tích cực như tỷ lệ phụ nữ được quản lý thai đạt gần 99%; tỷ lệ khám thai từ 4 lần trở lên đạt gần 98%; tỷ lệ tử vong mẹ duy trì dưới 15/100.000 trẻ đẻ sống…

Tuy nhiên, theo bác sĩ Thành, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động, đặc biệt là lao động nữ trong khu công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Việc quản lý thai trong 3 tháng đầu còn hạn chế; nhiều nữ công nhân chỉ đi khám khi có triệu chứng. Thời gian làm việc kéo dài 10 đến 12 giờ mỗi ngày khiến họ khó tiếp cận dịch vụ y tế.

Với lao động nhập cư, việc theo dõi thai kỳ càng khó do biến động nơi ở và thiếu thông tin liên hệ ổn định. Nguồn lực cho y tế cơ sở vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đáng lưu ý, tình hình lây nhiễm HIV, trong đó có xu hướng gia tăng qua quan hệ đồng giới nam cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường truyền thông và can thiệp dự phòng phù hợp trong nhóm lao động trẻ.

Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đang thu hút khoảng 570 nghìn lao động làm việc tại các khu, cụm công nghiệp. Trong đó, lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn, phần lớn dưới 35 tuổi, thuộc nhóm tuổi cần được quan tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và làm mẹ an toàn.

Việc thiếu kiến thức và hạn chế tiếp cận dịch vụ có thể dẫn đến nhiều hệ lụy như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của lao động trẻ. Để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động trẻ trong khu công nghiệp, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần nâng cao năng lực nhân lực y tế, đặc biệt tại tuyến cơ sở, cả về chuyên môn lẫn kỹ năng tư vấn, truyền thông, đồng thời chú trọng thái độ phục vụ, bảo đảm thân thiện và tôn trọng quyền riêng tư của người lao động.

Cùng với đó, cần tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống y tế, nhất là tại các khu vực tập trung đông công nhân. Việc khuyến khích doanh nghiệp phối hợp với cơ sở y tế tổ chức khám, tư vấn, sàng lọc ngay tại nơi làm việc sẽ giúp người lao động dễ tiếp cận hơn.

Công tác truyền thông cũng cần đổi mới theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đặc thù công việc. Cùng đó là tăng cường ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, kết hợp truyền thông trực tiếp tại doanh nghiệp và khu nhà trọ.

Nội dung truyền thông cần tập trung vào làm mẹ an toàn, kế hoạch hóa gia đình, phòng, chống bệnh lây truyền qua đường tình dục, đồng thời quan tâm đến sức khỏe tâm thần, giảm áp lực lao động. Việc lồng ghép với các hoạt động an toàn vệ sinh lao động sẽ giúp nâng cao hiệu quả tiếp cận.

Trong bối cảnh lực lượng lao động trẻ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò then chốt trong phát triển công nghiệp, việc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ dừng ở trách nhiệm an sinh mà còn là một chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực. Khi những “khoảng trống” về nhận thức và tiếp cận được lấp đầy, người lao động sẽ chủ động hơn trong bảo vệ sức khỏe, qua đó góp phần tạo nền tảng vững chắc cho chất lượng dân số và sự phát triển lâu dài.

Bài, ảnh: Huệ Nguyễn

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ