Ngoại giao mở đường cho kỷ nguyên phát triển mới

Đó là đối ngoại phải đi trước mở đường, giữ vững môi trường hòa bình, mở rộng không gian phát triển và chuyển hóa vị thế quốc tế của Việt Nam thành những nguồn lực cụ thể phục vụ đất nước, doanh nghiệp và nhân dân.
Từ thế và lực mới đến sứ mệnh mới của đối ngoại
Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 diễn ra trong một bối cảnh rất đặc biệt. Thế giới đang bước vào một giai đoạn biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột, bất ổn và chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng gia tăng; những đột phá về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu, năng lượng và công nghệ sinh học đang làm thay đổi cấu trúc quyền lực, phương thức sản xuất và khả năng cạnh tranh của các quốc gia.
Trong một thế giới như vậy, ranh giới giữa cơ hội và thách thức trở nên mong manh hơn. Một biến động ở xa có thể nhanh chóng tác động đến chuỗi cung ứng, thị trường xuất khẩu, việc làm và đời sống của người dân trong nước. Ngược lại, một xu hướng công nghệ mới, nếu được nhận diện và nắm bắt kịp thời, có thể mở ra những cơ hội phát triển chưa từng có.
Chính trong bối cảnh đó, bài phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 mang ý nghĩa như một định hướng chiến lược đối với công tác đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thông điệp xuyên suốt là đối ngoại không chỉ có nhiệm vụ thích ứng với những biến động của thế giới, mà phải chủ động tham gia định hình môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đất nước.
Đây là sự tiếp nối và phát triển tư duy nhất quán của Đảng ta về vai trò tiên phong của đối ngoại. Tiên phong trước hết là góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc từ sớm, từ xa.
Nhưng trong giai đoạn mới, vai trò tiên phong còn phải được thể hiện ở khả năng dự báo, mở đường và kiến tạo cơ hội. Đối ngoại phải giúp đất nước nhận diện sớm những dịch chuyển lớn của thế giới; xác định đâu là đối tác, thị trường, công nghệ và lĩnh vực hợp tác có ý nghĩa chiến lược; từ đó tham mưu những lựa chọn đúng đắn, tránh bị động, bất ngờ và không để đất nước bỏ lỡ các cơ hội phát triển.
Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, có thể thấy đối ngoại đã đóng góp rất quan trọng vào việc tạo dựng thế và lực mới của Việt Nam. Từ một đất nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập ngày càng sâu rộng và trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Mạng lưới các mối quan hệ song phương và đa phương ngày càng được mở rộng. Lòng tin chính trị với các đối tác được củng cố. Vị thế của Việt Nam tại các cơ chế khu vực và quốc tế ngày càng được nâng cao. Hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định, năng động, đổi mới, có trách nhiệm và đáng tin cậy đã trở thành một tài sản quan trọng của đất nước.
Những thành tựu ấy cho thấy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế là hoàn toàn đúng đắn. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính nguyên tắc, mà còn là phương thức để Việt Nam duy trì cân bằng chiến lược, mở rộng không gian hợp tác và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trong một thế giới nhiều cạnh tranh, chia rẽ.
Tuy nhiên, thế giới càng biến động, chúng ta càng phải giữ vững bản lĩnh. Bài phát biểu tại Hội nghị gửi đi một thông điệp rất rõ: Tình hình càng phức tạp càng phải bình tĩnh, chủ động; tự tin nhưng không chủ quan; mạnh dạn nhưng không phiêu lưu; mềm dẻo nhưng không xa rời nguyên tắc.
Đó cũng chính là bản sắc của ngoại giao Việt Nam được kết tinh qua lịch sử: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc và lợi ích cốt lõi nhưng linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp; giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời chân thành, tin cậy và rộng mở trong hợp tác.
Trong giai đoạn mới, bản lĩnh đối ngoại còn nằm ở khả năng bảo đảm tự chủ chiến lược. Hội nhập quốc tế sâu rộng không có nghĩa là phụ thuộc. Tranh thủ nguồn lực bên ngoài không có nghĩa là xem nhẹ nội lực. Mở rộng hợp tác không có nghĩa là đánh đổi lợi ích lâu dài hay đặt đất nước vào những rủi ro chiến lược.
Vì vậy, đối ngoại phải góp phần làm cho đất nước mạnh hơn từ bên trong. Mỗi quan hệ hợp tác cần giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất, khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chỉ khi nội lực được củng cố, chúng ta mới có đủ khả năng tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức và giữ vững thế chủ động trong mọi tình huống.
Ở một tầng ý nghĩa sâu xa hơn, đối ngoại trong kỷ nguyên mới không chỉ là một lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, mà là một cấu phần của năng lực tổng hợp quốc gia. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Quốc hội và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và thông tin truyền thông.
Sức mạnh đối ngoại vì thế không chỉ nằm trong các cơ quan ngoại giao. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài và mỗi người dân Việt Nam. Mỗi chủ thể, trong lĩnh vực và vị trí của mình, đều có thể góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia, tạo dựng lòng tin và lan tỏa các giá trị Việt Nam ra thế giới.

Chuyển vị thế quốc tế thành nguồn lực phát triển
Một trong những điểm quan trọng nhất trong bài phát biểu là yêu cầu chuyển mạnh từ việc tạo lập khuôn khổ quan hệ sang tổ chức thực hiện có hiệu quả; từ mở rộng hợp tác sang khai thác đầy đủ tiềm năng của từng mối quan hệ; từ vị thế đối ngoại sang những nguồn lực cụ thể cho phát triển.
Đây là một bước chuyển có ý nghĩa rất lớn. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tạo dựng được một mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở và nhiều khuôn khổ hợp tác có tầm chiến lược. Đây là tài sản vô cùng quý giá. Nhưng quan hệ được nâng cấp không phải là điểm kết thúc. Một khuôn khổ quan hệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa thành các chương trình, dự án và lợi ích thiết thực.
Lòng tin chính trị cần được chuyển hóa thành hợp tác kinh tế và công nghệ. Các cam kết cần được chuyển thành hành động. Các thỏa thuận cần được triển khai đúng tiến độ. Những chuyến thăm cấp cao phải tạo động lực cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp tiếp tục mở rộng hợp tác.
Hiệu quả của đối ngoại vì thế không thể chỉ đo bằng số lượng các chuyến thăm, cuộc tiếp xúc hay văn kiện được ký kết. Những kết quả ấy rất quan trọng, nhưng thước đo cuối cùng phải là sự đóng góp đối với môi trường hòa bình, năng lực tự chủ, chất lượng tăng trưởng và đời sống nhân dân.
Một quan hệ đối ngoại có hiệu quả phải giúp mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ Việt Nam, thu hút được những dự án đầu tư có chất lượng, tiếp cận được các công nghệ tiên tiến, đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Đó là lý do ngoại giao phục vụ phát triển cần được đặt ở vị trí trung tâm. Trong kỷ nguyên mới, ngoại giao kinh tế không chỉ là xúc tiến thương mại, vận động đầu tư hay mở cửa thị trường theo nghĩa truyền thống. Nhiệm vụ quan trọng hơn là kết nối đất nước với những nguồn lực đang quyết định tương lai phát triển của thế giới: công nghệ, tri thức, dữ liệu, tài chính xanh, năng lượng sạch và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Việt Nam cần vốn đầu tư nhưng quan trọng hơn là cần những dòng vốn có chất lượng, gắn với chuyển giao công nghệ, quản trị hiện đại, đào tạo nhân lực và sự tham gia sâu hơn của doanh nghiệp trong nước. Việt Nam cần mở rộng xuất khẩu nhưng không thể hài lòng với việc chủ yếu tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng thấp. Việt Nam cần hội nhập sâu rộng hơn, nhưng hội nhập phải giúp nâng cao năng lực nội sinh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Từ yêu cầu đó, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần thực sự trở thành những trung tâm thông tin, kết nối và xúc tiến phát triển. Mỗi cơ quan đại diện phải hiểu rõ nhu cầu của đất nước, của từng ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời nắm chắc thế mạnh của địa bàn để chủ động kết nối đúng đối tác, đúng công nghệ, đúng nguồn lực.
Ngoại giao cũng phải gần doanh nghiệp hơn. Doanh nghiệp chính là lực lượng trực tiếp biến các cơ hội đối ngoại thành các dự án, sản phẩm, thị trường và việc làm. Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp không thể dừng ở việc cung cấp thông tin, mà cần tiến tới đồng hành trong xử lý rào cản, tranh chấp, tiêu chuẩn kỹ thuật, phòng vệ thương mại và những vấn đề mới của kinh tế số, kinh tế xanh.
Cùng với ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ phải trở thành một hướng ưu tiên. Trong một thế giới mà năng lực công nghệ ngày càng quyết định vị thế quốc gia, ngoại giao cần giúp Việt Nam tiếp cận những mạng lưới nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực hàng đầu; thu hút chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào những nhiệm vụ phát triển quan trọng của đất nước.
Ngoại giao văn hóa cũng cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Văn hóa không chỉ giúp thế giới hiểu và yêu mến Việt Nam, mà còn góp phần tạo dựng lòng tin, mở đường cho hợp tác kinh tế, du lịch và giao lưu nhân dân. Trong thời đại số, sức hấp dẫn của văn hóa, con người và các giá trị quốc gia ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp.
Bên cạnh quan hệ song phương, Việt Nam cần tiếp tục nâng tầm đối ngoại đa phương. Không chỉ tích cực tham gia, chúng ta cần chủ động đề xuất sáng kiến, đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề chung và từng bước tham gia định hình các chuẩn mực, khuôn khổ hợp tác khu vực, quốc tế.
Việc chuẩn bị đăng cai Năm APEC 2027 là một ví dụ. Đây không chỉ là nhiệm vụ tổ chức một sự kiện đối ngoại lớn, mà còn là cơ hội để Việt Nam đóng góp những sáng kiến có giá trị, quảng bá hình ảnh đất nước, kết nối các trung tâm kinh tế, công nghệ và doanh nghiệp hàng đầu, từ đó tạo thêm động lực cho phát triển.
Tuy nhiên, để các định hướng lớn trở thành kết quả thực tế, khâu quyết định vẫn là tổ chức thực hiện. Đường lối đã rõ, khuôn khổ quan hệ đã có nhưng nếu thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả, thiếu trách nhiệm cá nhân và thiếu sự kiểm tra, đôn đốc, những cơ hội đối ngoại có thể bị bỏ lỡ.
Cần xác định rõ cơ quan chủ trì, nhiệm vụ, tiến độ và sản phẩm cụ thể đối với từng cam kết, thỏa thuận và chương trình hợp tác quốc tế. Trách nhiệm của người đứng đầu phải được đề cao. Kết quả thực hiện cần được lượng hóa và trở thành một tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác.
Cùng với thể chế và cơ chế phối hợp, con người là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Ngoại giao trong kỷ nguyên mới cần một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược, kiến thức liên ngành và năng lực hành động.
Cán bộ ngoại giao không chỉ cần giỏi ngoại ngữ, am hiểu luật pháp và quan hệ quốc tế, mà còn phải hiểu kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, truyền thông và thị trường. Quan trọng hơn, họ phải có tinh thần phụng sự, sự nhạy bén trước cái mới và ý thức luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.
Thông điệp lớn từ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 có thể được khái quát ở một yêu cầu: Ngoại giao phải đồng thời làm tốt sứ mệnh giữ nước, mở đường và kiến tạo phát triển. Đó là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; là mở rộng không gian hợp tác, thị trường và cơ hội phát triển; đồng thời chuyển hóa quan hệ, vị thế và uy tín quốc tế thành năng lực mới của đất nước.
Khi mỗi khuôn khổ quan hệ được cụ thể hóa bằng một chương trình hành động, mỗi cam kết được chuyển thành một kết quả, mỗi cơ hội đối ngoại được biến thành giá trị thiết thực cho người dân và doanh nghiệp, ngoại giao Việt Nam sẽ thực sự trở thành lực lượng tiên phong, mở đường cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới bằng bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên.
ĐBQH. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
4 giờ trước
14 giờ trước
14 giờ trước
14 giờ trước
16 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
30 phút trước
2 giờ trước
5 giờ trước
45 phút trước
5 phút trước
15 phút trước
24 phút trước
32 phút trước
38 phút trước
39 phút trước
43 phút trước
46 phút trước