Nghị quyết 19-NQ/TW: Lượng hóa đổi mới mô hình phát triển bằng 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Cùng ngày, Bộ Chính trị ban hành Chương trình số 33-CTr/TW nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết.
Nghị quyết số 19-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh mô hình tăng trưởng của Việt Nam còn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tự chủ chiến lược còn hạn chế. Trong khi đó, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mô hình phát triển đất nước.
Nghị quyết xác định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử; hướng tới chuyển đổi phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia, tạo lập năng lực phát triển mới. Mô hình phát triển được định hướng theo các đặc trưng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể của quá trình phát triển.
Xác lập mục tiêu đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2130
Nghị quyết số 19-NQ/TW đề ra mục tiêu cho các giai đoạn đến năm 2030, 2035 và 2045, đồng thời xác lập định hướng tầm nhìn đến năm 2130.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu tạo lập vững chắc những nền tảng cho mô hình phát triển mới, gồm thể chế kiến tạo phát triển; quản trị quốc gia hiện đại; hạ tầng chiến lược đồng bộ; hạ tầng dữ liệu, năng lực tri thức quốc gia; nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt.
Đến năm 2035, Việt Nam cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành nền kinh tế có hiệu quả cao, xanh, tự chủ và bao trùm.
Đến năm 2045, mô hình phát triển mới được hình thành đầy đủ, các mô hình thành phần vận hành đồng bộ, hài hòa và hiệu quả, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Nghị quyết cũng xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước trong giai đoạn 2030-2130.
Quá trình đổi mới được triển khai trên bảy nhóm lĩnh vực: Thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị; kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Lượng hóa mục tiêu bằng 40 chỉ tiêu
Điểm đáng chú ý trong Chương trình số 33-CTr/TW là các mục tiêu đổi mới mô hình phát triển được lượng hóa bằng 40 chỉ tiêu cụ thể, chia theo ba giai đoạn 2026-2030, 2031-2035 và 2036-2045.
Nhóm thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị gồm bốn chỉ tiêu về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số; môi trường đầu tư; sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; mức độ trưởng thành trong sử dụng và quản trị dữ liệu phục vụ điều hành.
Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu 100% bộ, ngành Trung ương và địa phương đạt cấp độ 4, trong đó 90% đạt cấp độ 5 về mức độ trưởng thành quản trị dữ liệu. Giai đoạn 2031-2035, khoảng 95% bộ, ngành Trung ương và địa phương đạt cấp độ 5; Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt trung bình từ 88% đến 90%.
Nhóm kinh tế có 14 chỉ tiêu, tập trung vào tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người, năng suất lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp, kinh tế số, trung tâm dữ liệu, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo và phát triển đô thị.
Theo chương trình, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân được đặt mục tiêu từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030; từ 8% đến 8,5% trong giai đoạn 2031-2035 và khoảng 7,5% trong giai đoạn 2036-2045.
GDP bình quân đầu người phấn đấu đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, khoảng 13.500 USD trong giai đoạn 2031-2035 và khoảng 28.000 USD trong giai đoạn 2036-2045. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP được đặt mục tiêu từ 30% vào năm 2030, từ 30% đến 35% trong giai đoạn tiếp theo và từ 40% vào giai đoạn 2036-2045.
Đối với trí tuệ nhân tạo, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới theo Chỉ số sẵn sàng về trí tuệ nhân tạo của Chính phủ. Giai đoạn 2031-2035, Việt Nam hướng tới trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo của châu Á.
Nhóm xã hội gồm 8 chỉ tiêu về dân số; nhân lực nghiên cứu và phát triển; tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ; phát triển nhân lực số; số cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực; an sinh xã hội; tuổi thọ và số năm sống khỏe; bình đẳng giới.
Đến năm 2030, tuổi thọ trung bình của người dân được đặt mục tiêu đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm. Giai đoạn 2036-2045, tuổi thọ trung bình phấn đấu trên 80 tuổi, số năm sống khỏe tối thiểu trên 71 năm.
Nhóm văn hóa, con người gồm 4 chỉ tiêu về Chỉ số phát triển con người, Chỉ số hạnh phúc, đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa trong GDP và phát triển thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Giá trị tăng thêm của các ngành công nghiệp văn hóa được đặt mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030, 8% trong giai đoạn 2031-2035 và 9% trong giai đoạn 2036-2045. Chương trình cũng đặt mục tiêu hình thành các thương hiệu văn hóa có uy tín quốc tế.
Nhóm môi trường sinh thái gồm 5 chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính; tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp; tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái; vận hành thị trường các-bon; phòng, chống và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu vận hành chính thức sàn giao dịch các-bon; đến giai đoạn 2036-2045, vận hành toàn diện thị trường các-bon bắt buộc, liên thông công nghệ và kỹ thuật giao dịch với thị trường các-bon quốc tế.
Nhóm quốc phòng, an ninh gồm 4 chỉ tiêu về hình thành nền quốc phòng số, lực lượng vũ trang thông minh và công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; nâng cao thứ hạng Chỉ số an ninh mạng toàn cầu; phát triển công nghiệp an ninh mạng; phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại.
Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 15 quốc gia dẫn đầu thế giới về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu vào năm 2030, nhóm 12 nước vào giai đoạn 2031-2035 và nhóm 10 nước trong giai đoạn 2036-2045.
Nhóm đối ngoại và hội nhập quốc tế gồm một chỉ tiêu về thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới thuộc danh sách Fortune Global 500 đặt trụ sở, văn phòng hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.
Mục tiêu là thu hút ít nhất 3 tập đoàn vào năm 2030, ít nhất 5 tập đoàn trong giai đoạn 2031-2035 và ít nhất 10 tập đoàn trong giai đoạn 2036-2045.
51 nhiệm vụ gắn với trách nhiệm và sản phẩm đầu ra
Cùng với 40 chỉ tiêu, Chương trình số 33-CTr/TW đề ra 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng. Các nhiệm vụ được phân chia theo từng nhóm lĩnh vực và xây dựng theo một khung quản trị cụ thể, gồm cơ quan, tổ chức chủ trì; cơ quan, tổ chức phối hợp; thời gian thực hiện hoặc hoàn thành; kết quả, sản phẩm và nguồn lực thực hiện.
Cách thiết kế này giúp chuyển các định hướng lớn của Nghị quyết thành nhiệm vụ có thể theo dõi, đo lường và đánh giá. Trách nhiệm của từng cơ quan được xác định cùng với tiến độ, nguồn lực và sản phẩm đầu ra, qua đó hạn chế tình trạng nhiệm vụ chỉ dừng ở định hướng chung hoặc khó xác định trách nhiệm khi thực hiện.
Chương trình yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương xây dựng, ban hành chương trình hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết trong tháng 8/2026; đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, khắc phục hạn chế trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước. Bộ Chính trị, Ban Bí thư tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc triển khai; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương được giao chủ trì theo dõi, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện.
Việc ban hành đồng thời Nghị quyết số 19-NQ/TW và Chương trình số 33-CTr/TW thể hiện sự gắn kết từ định hướng chiến lược đến tổ chức thực hiện. Hệ thống 40 chỉ tiêu cùng 51 nhiệm vụ, giải pháp là cơ sở để kiểm soát tiến độ, đo lường kết quả và xác định trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình đổi mới mô hình phát triển.
Qua đó, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ được xác lập bằng định hướng chính trị, mà còn được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, lộ trình, nguồn lực và sản phẩm đầu ra rõ ràng.
Nhật Minh
6 giờ trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
1 giờ trước
50 phút trước
1 giờ trước
3 phút trước
10 phút trước
18 phút trước