Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số để nâng cao sức cạnh tranh

Nhiều doanh nghiệp ngành dệt may đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ảnh minh họa.
Trong bối cảnh xung đột Trung Đông làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, dệt may Việt Nam vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực với kim ngạch xuất khẩu quý 1/2026 đạt trên 8,8 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ và nhiều doanh nghiệp đã có đơn hàng đến hết quý 3/2026.
Dù đạt tăng trưởng ấn tượng trong quý 1/2026, ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt áp lực lớn từ chi phí đầu vào, chi phí vận tải leo thang và yêu cầu tiêu chuẩn bền vững ngày càng khắt khe. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi xanh nhằm kiểm soát chi phí và duy trì sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.
THÁCH THỨC “KÉP” TỪ CHI PHÍ LOGISTICS VÀ NHÂN LỰC
Xung đột kéo dài tại khu vực Trung Đông đã và đang tạo ra những tác động dây chuyền đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc các hãng tàu phải thay đổi lộ trình, đi vòng qua Mũi Hảo Vọng thay vì băng qua eo biển Hormuz đã đẩy chi phí nhiên liệu, bảo hiểm và cước vận tải lên cao, đồng thời kéo dài thời gian giao hàng. Đối với một ngành hàng có tính thời vụ cao và biên lợi nhuận hẹp như dệt may, đặt ra bài toán lớn đối với ngành.
Ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết bên cạnh việc theo sát diễn biến thị trường, kịp thời đưa ra cảnh báo và dự báo sát thực tế, cần tận dụng hiệu quả 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đang có hiệu lực. Đồng thời, mở rộng tìm kiếm thị trường, đối tác mới, nhất là thông qua các liên minh như Á - Âu, qua đó giảm phụ thuộc vào các tuyến vận chuyển đi qua khu vực Trung Đông, đa dạng hóa cả đường biển và hàng không.
Theo ông Sơn, đây là những giải pháp thiết thực mà Bộ Công Thương và các bộ, ngành có thể hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Ông cũng lưu ý, không nhất thiết phải quá chú trọng việc ký kết thêm các FTA mới, mà có thể xem xét thúc đẩy các thỏa thuận thương mại với những thị trường tiềm năng, có điều kiện tương đồng với hàng hóa Việt Nam như Pakistan, Ai Cập, Algeria và một số quốc gia Nam Mỹ.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS).
Thực tế cho thấy, áp lực không chỉ đến từ bên ngoài mà còn từ nội tại thị trường lao động. Theo đại diện Công ty TNHH Youngone Nam Định, tình trạng khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ chân lao động đang buộc doanh nghiệp phải tìm đến các giải pháp thay thế.
Xu hướng lao động chuyển dịch sang các ngành nghề khác hoặc đi làm việc tại nước ngoài khiến việc đầu tư vào hệ thống tự động hóa trở thành giải pháp cốt yếu để duy trì quy mô sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành may buộc phải đầu tư nhiều hơn vào hệ thống tự động hóa và robot để duy trì hoạt động sản xuất.
TÌM LỜI GIẢI TỪ THỰC TIỄN VẬN HÀNH
Với mục tiêu xuất khẩu 49 tỷ USD năm 2026, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và khách hàng trở thành định hướng then chốt, đòi hỏi ngành dệt may tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ về công nghệ và phát triển bền vững.
Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), cho rằng ngành dệt may đang bước vào một giai đoạn mới với những đòi hỏi khắt khe hơn. Khách hàng quốc tế hiện không chỉ yêu cầu thời gian giao hàng nhanh, giá thành cạnh tranh mà còn đặt ra những tiêu chuẩn rất cao về chất lượng và tính bền vững.
“Doanh nghiệp cần thiết quan tâm đầu tư hạ tầng nhà xưởng đạt chuẩn đánh giá quốc tế, đầu tư công nghệ, tự động hóa, robot và thậm chí ứng dụng AI trong sản xuất”, ông Giang nhận định.
Trước áp lực tối ưu chi phí và nâng cao năng suất, nhiều doanh nghiệp dệt may đã chuyển từ cải tiến đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái sản xuất thông minh, đồng thời tái cấu trúc hoạt động, nâng cao khả năng thích ứng để duy trì sức cạnh tranh.




Ảnh minh họa
Trao đổi tại triển lãm Quốc tế ngành công nghiệp dệt và may, thiết bị - nguyên phụ liệu và vải 2026, ông Nguyễn Văn Tiếp, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang, cho biết hiện nay các doanh nghiệp trong ngành đã thực hiện chuyển đổi khoảng 30 - 40% thiết bị sang công nghệ mới. Việc chuyển đổi này không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra đồng nhất, giảm bớt sự lệ thuộc vào tay nghề của công nhân.
Theo ông Thân Đức Việt, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10, tự động hóa và “xanh hóa” đang trở thành yếu tố mang tính chiến lược, không chỉ với doanh nghiệp mà với toàn ngành dệt may. Yêu cầu từ các thị trường quốc tế về tăng tỷ lệ nguyên liệu tái chế đang buộc doanh nghiệp phải thay đổi. Đồng thời, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao nguyên liệu và sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời cũng được tăng cường nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất xanh.
“Đổi mới công nghệ, hướng tới xanh hóa là xu thế tất yếu nếu doanh nghiệp muốn theo kịp yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững”, ông Việt nhấn mạnh.

Ông Ham Kwan Sooh, Giám đốc kinh doanh quốc tế Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang.
“Theo ghi nhận thực tế, các doanh nghiệp dệt may đang chuyển từ tư duy đầu tư ngắn hạn sang chiến lược đổi mới dài hạn và bền vững hơn. Nếu trước đây tập trung mở rộng sản lượng và tận dụng lao động, hiện nay doanh nghiệp chú trọng nhiều hơn đến tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, quản lý dữ liệu sản xuất và đảm bảo chất lượng ổn định”.
Tuy nhiên, ông Ham Kwan Sooh, Giám đốc kinh doanh quốc tế Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang, nhận định rào cản lớn không chỉ nằm ở chi phí đầu tư ban đầu mà còn ở áp lực thay đổi và khả năng thích nghi của đội ngũ vận hành. Dù nhận thức rõ lợi ích của công nghệ mới, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi triển khai do thiếu nhân lực kỹ thuật, người lao động chưa quen với quy trình mới và lo ngại ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trong giai đoạn đầu.
Bên cạnh đó, đặc thù ngành may với yêu cầu linh hoạt cao, thường xuyên thay đổi mẫu mã cũng khiến doanh nghiệp băn khoăn về hiệu quả áp dụng tự động hóa trên nhiều dòng sản phẩm. Quan trọng hơn, bài toán niềm tin vào hiệu quả đầu tư và sự phù hợp với điều kiện vận hành thực tế vẫn là thách thức lớn.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Ham Kwan Sooh cho biết hiện nay, doanh nghiệp không chỉ cung cấp giải pháp về mặt thiết bị mà còn đồng hành toàn diện cùng khách hàng, từ khảo sát, tư vấn, thử nghiệm đến đào tạo và chuyển giao công nghệ. Các giải pháp được thiết kế riêng theo từng nhà máy, sản phẩm và mục tiêu vận hành, đồng thời đi kèm hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân sự và xử lý phát sinh trong quá trình vận hành.
Cách tiếp cận này nhằm giúp doanh nghiệp giảm rủi ro đầu tư, từng bước làm chủ công nghệ và xây dựng hệ thống sản xuất hiệu quả, ổn định và bền vững hơn trong dài hạn.
Hải Vân
32 phút trước
4 giờ trước
8 giờ trước
1 ngày trước
3 ngày trước
9 ngày trước
11 ngày trước
16 ngày trước
18 ngày trước
19 ngày trước
39 phút trước
4 phút trước
46 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
8 phút trước
9 phút trước
17 phút trước
19 phút trước