🔍
Chuyên mục: Tài chính

MSB chi cho công nghệ tăng, hơn 10.000 tỷ đồng tiền gửi không kỳ hạn rời đi

1 giờ trước
Báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026 của MSB ghi nhận tiền gửi không kỳ hạn giảm gần 19%, nợ có khả năng mất vốn tăng 18,64%, trong khi dự phòng cụ thể lại giảm.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam (HoSE: MSB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ quý 2 năm 2026, ký ngày 30/7/2026. Báo cáo do MSB tự lập và chưa qua kiểm toán độc lập.

Nhìn vào dòng lợi nhuận, MSB vẫn tăng trưởng. Lợi nhuận sau thuế sáu tháng đầu năm 2026 đạt 2.764.825 triệu đồng, cao hơn 10,46% so với mức 2.503.093 triệu đồng cùng kỳ năm 2025. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tăng từ 802 đồng lên 886 đồng.

Tổng tài sản hợp nhất của MSB đạt 440.998.586 triệu đồng, tương đương gần 441.000 tỷ đồng. Nhưng khi tách từng khoản mục trong chính báo cáo, nhiều chỉ số nền tảng của MSB lại đi theo hướng ngược lại.

Hơn mười nghìn tỷ đồng tiền gửi giá rẻ rời khỏi ngân hàng

Thuyết minh số 19 cho thấy tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng tại MSB giảm từ 55.328.682 triệu đồng cuối năm 2025 xuống còn 44.834.808 triệu đồng tại ngày 30/6/2026. Khoản hụt lên tới 10.493.874 triệu đồng, tương đương 18,97%.

Đây là loại tiền khách hàng để trong tài khoản thanh toán và có thể rút bất cứ lúc nào. MSB gần như không phải trả lãi cho khoản tiền đó, nên giới tài chính quen gọi là tiền gửi giá rẻ. Tỷ trọng của nó trong tổng tiền gửi khách hàng của MSB giảm từ 28,13% xuống 21,90%.

Nợ nhóm 5 của MSB tăng từ 3.169.256 triệu đồng lên 3.760.022 triệu đồng chỉ sau sáu tháng. Ảnh chụp Thuyết minh 9.1, Báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026.

Hệ quả hiện ngay ở chi phí. Chi phí lãi và các chi phí tương tự sáu tháng đầu năm 2026 của MSB lên 7.880.692 triệu đồng, tăng 59,79% so với cùng kỳ. Trong khi đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự của MSB chỉ tăng 40,51%, lên 14.079.437 triệu đồng.

Tiền gửi khách hàng của MSB tăng 4,07% trong sáu tháng, đạt 204.674.379 triệu đồng. Cùng thời gian, dư nợ cho vay khách hàng tăng 12,28%, lên 230.420.314 triệu đồng. Tỷ lệ dư nợ so với tiền gửi khách hàng của MSB theo đó lên 112,58%, cao hơn mức 104,34% hồi cuối năm 2025.

MSB bù phần chênh lệch bằng nguồn vốn liên ngân hàng và vốn từ cơ quan quản lý. Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác tăng 13,54%, lên 123.320.445 triệu đồng. Các khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước của MSB tăng 29,51%, lên 29.874.170 triệu đồng.

Trên bảng cân đối của MSB còn xuất hiện một khoản hoàn toàn mới. Giao dịch bán và mua lại trái phiếu Chính phủ với Kho bạc Nhà nước ghi 13.920.913 triệu đồng, trong khi cuối năm 2025 khoản mục để trống.

Bảng phân tích thời hạn thanh khoản của MSB cho thấy mức chênh lệch thanh khoản ròng ở kỳ hạn đến một tháng âm 97.433.397 triệu đồng. Tiền gửi của tổ chức kinh tế tại MSB giảm từ 110.259.439 triệu đồng xuống 108.766.127 triệu đồng.

Nợ có khả năng mất vốn tăng, dự phòng cụ thể lại giảm

Thuyết minh 9.1 phân loại dư nợ cho vay của MSB thành năm nhóm. Nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn, tăng từ 3.169.256 triệu đồng lên 3.760.022 triệu đồng, tương đương 18,64%. Nhóm 2, nợ cần chú ý của MSB, tăng 24,14% lên 2.913.298 triệu đồng.

Tổng nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5 của MSB là 5.826.089 triệu đồng, cao hơn 5,54% so với mức 5.520.348 triệu đồng cuối năm 2025. Xét theo tỷ lệ, nợ xấu chiếm 2,53% tổng dư nợ, thấp hơn mức 2,69% đầu năm, do dư nợ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của nợ xấu.

Tiền gửi không kỳ hạn tại MSB bốc hơi hơn 10.400 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm 2026. Ảnh chụp Thuyết minh 19.1, Báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026.

Điểm cần lưu ý nằm ở phía dự phòng. Theo thuyết minh số 10, dự phòng cụ thể cho vay khách hàng của MSB giảm từ 1.335.298 triệu đồng xuống 1.303.239 triệu đồng, dù nợ nhóm 5 tăng gần 591 tỷ đồng trong cùng giai đoạn.

Tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của MSB là 3.003.191 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ bao phủ nợ xấu 51,55%. Nói cách khác, với mỗi 100 đồng nợ xấu, MSB mới dành ra hơn 51 đồng dự phòng.

MSB đã dùng 883.942 triệu đồng nguồn dự phòng để xử lý rủi ro trong sáu tháng. Số dư nợ khó đòi MSB đã xử lý và còn theo dõi ngoài bảng cân đối tăng lên 21.077.176 triệu đồng, gấp khoảng 3,6 lần nợ xấu còn nằm trong bảng.

Một khoản mục khác của MSB phình rất nhanh là tài sản Có khác. Giá trị tăng từ 22.275.959 triệu đồng lên 32.758.421 triệu đồng, chiếm 7,43% tổng tài sản so với 5,46% đầu năm. Riêng các khoản phải thu khác của MSB tăng hơn gấp đôi, từ 6.598.809 triệu đồng lên 13.880.561 triệu đồng.

Các khoản lãi và phí phải thu, tức phần lãi MSB đã ghi nhận nhưng chưa thu được tiền, tăng 21,69% lên 12.416.173 triệu đồng. Riêng lãi cho vay chưa thu của MSB, theo dõi ngoài bảng, là 1.757.243 triệu đồng.

Về cơ cấu ngành, cho vay kinh doanh bất động sản và cơ sở hạ tầng chiếm 13,95% dư nợ của MSB, xây dựng chiếm 10,14%, kinh doanh sắt thép xi măng và vật liệu xây dựng chiếm 3,99%. Ba nhóm cộng lại tương đương 28,08% tổng dư nợ của MSB.

Chi cho công nghệ tăng, thu ngoài lãi hụt hai phần ba

Với một ngân hàng đặt trọng tâm vào chuyển đổi số, phần thu ngoài lãi phản ánh khá rõ hiệu quả của kênh số và hệ sinh thái dịch vụ. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ sáu tháng của MSB chỉ còn 543.589 triệu đồng, giảm 40,18% so với 908.786 triệu đồng cùng kỳ.

Kinh doanh ngoại hối mang về 84.220 triệu đồng, giảm 83,19%. Mua bán chứng khoán đầu tư lỗ 136.246 triệu đồng, trong khi cùng kỳ lãi 66.478 triệu đồng. Cộng ba mảng, thu ngoài lãi của MSB giảm 66,70%, từ 1.476.275 triệu đồng xuống 491.563 triệu đồng.

Riêng quý 2, lợi nhuận thuần trước chi phí dự phòng của MSB giảm 7,22%, còn 2.070.249 triệu đồng. Nhờ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 21,93%, lợi nhuận trước thuế quý 2 gần như đi ngang ở mức 1.532.288 triệu đồng, thấp hơn 0,64% so với quý 2/2025.

Ở phía đầu tư công nghệ, MSB chi 139.020 triệu đồng mua phần mềm máy vi tính trong sáu tháng, cộng thêm 37.001 triệu đồng từ đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành. Nguyên giá phần mềm của MSB lên 793.852 triệu đồng, giá trị còn lại tăng từ 137.871 triệu đồng lên 286.242 triệu đồng.

Tuy vậy, báo cáo của MSB cũng ghi nhận 283.377 triệu đồng nguyên giá tài sản cố định vô hình đã hao mòn hết nhưng MSB vẫn còn sử dụng, tương đương 32,06% tổng nguyên giá nhóm tài sản vô hình. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang và mua sắm tài sản cố định là 1.096.023 triệu đồng.

Tổng số cán bộ nhân viên của MSB giảm từ 6.843 người cuối năm 2025 xuống 6.631 người, tức bớt 212 người trong sáu tháng. Chi phí cho nhân viên của MSB giảm 3,47%, còn 1.269.792 triệu đồng, trong khi thu nhập bình quân tháng tăng từ 32,34 triệu đồng lên 34,43 triệu đồng.

Khoản góp vốn, đầu tư dài hạn tăng từ 1.236 triệu đồng lên 14.471 triệu đồng. Cùng lúc, MSB trích 5.844 triệu đồng dự phòng giảm giá cho khoản đầu tư đó, tương đương 40,38% giá trị đã bỏ ra.

Tỷ lệ an toàn vốn của MSB tại ngày 30/6/2026 là 12,27%. Vốn chủ sở hữu hợp nhất đạt 45.246.509 triệu đồng, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 8.512.540 triệu đồng. MSB có một công ty con là Công ty Tài chính TNHH MTV TNEX, tỷ lệ sở hữu 100%.

Đình Tưởng

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ