Lãi 583 tỷ đồng nhưng chỉ còn 5,2 tỷ tiền mặt, NT2 chi 1,38 tỷ cho phần mềm
Ngày 20/07/2026, Công ty Cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (HoSE: NT2) phát hành văn bản số 899/CPNT2-TCKT, công bố báo cáo tài chính quý 2/2026 cho kỳ kết thúc ngày 30/06/2026. Ông Lê Văn Tú lập biểu, ông Lê Việt An ký kế toán trưởng, ông Ngô Đức Nhân ký giám đốc ngày 15/07/2026. NT2 vận hành Nhà máy điện tuabin khí chu trình hỗn hợp Nhơn Trạch 2 từ ngày 16/10/2011, bán toàn bộ điện cho Công ty Mua bán điện thuộc EVN, với 170 lao động.
Nhìn dòng tổng, NT2 có một kỳ rực rỡ. Lợi nhuận sau thuế quý 2/2026 đạt 402,99 tỷ đồng, tăng 23,5%. Lũy kế 6 tháng, con số lên 582,97 tỷ đồng, tăng 60,5% so với 363,21 tỷ đồng. Nhưng các thuyết minh phía sau cho thấy phần lớn mức tăng không đến từ hiệu quả vận hành nhà máy.

Giá trị còn lại của phần mềm tại NT2 chỉ 1.414.078.784 đồng, trong khi 9.396.346.375 đồng nguyên giá tài sản vô hình đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng
Lợi nhuận tăng nhờ khấu hao giảm hơn nhờ hiệu quả vận hành
Thuyết minh số 22 ghi chi phí nguyên liệu, vật liệu 6 tháng đầu năm 2026 lên 4.049,14 tỷ đồng, tăng 1.558,69 tỷ đồng so với 2.490,45 tỷ đồng cùng kỳ, tương ứng tăng 62,6%. Cùng thời gian, doanh thu thuần đạt 4.996,20 tỷ đồng, tăng 1.488,24 tỷ đồng, tương ứng tăng 42,4%.
Đối chiếu hai con số, riêng phần chi thêm cho nhiên liệu đã lớn hơn phần doanh thu tăng thêm khoảng 70,45 tỷ đồng. NT2 bán nhiều điện hơn, song chi phí mua khí đốt tăng nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu.
Phần lãi tăng thêm đến từ nơi khác. Cũng tại thuyết minh số 22, chi phí khấu hao tài sản cố định 6 tháng còn 76,51 tỷ đồng, giảm 267,03 tỷ đồng, tương ứng giảm 77,7%. Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng còn 84,49 tỷ đồng, giảm 99,09 tỷ đồng, tương ứng giảm 54%.

Chi phí khấu hao 6 tháng đầu năm 2026 của NT2 còn 76,51 tỷ đồng so với 343,54 tỷ đồng cùng kỳ, chi phí sửa chữa bảo dưỡng còn 84,49 tỷ đồng so với 183,58 tỷ đồng. Ảnh chụp Thuyết minh số 22 báo cáo tài chính quý 2/2026.
Hai khoản trên cộng lại giảm 366,12 tỷ đồng, lớn hơn cả mức tăng 318,81 tỷ đồng của lợi nhuận trước thuế 6 tháng, từ 408,31 tỷ đồng lên 727,12 tỷ đồng. Toàn bộ phần lãi tăng thêm nằm gọn trong khoảng tiết giảm của khấu hao và sửa chữa.
Thuyết minh số 10 giải thích vì sao khấu hao rơi mạnh. Tài sản cố định hữu hình đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng có nguyên giá 8.353,07 tỷ đồng, chiếm 73,6% tổng nguyên giá 11.343,79 tỷ đồng. Gần ba phần tư máy móc, thiết bị đã hết giá trị trên sổ sách sau 15 năm chạy máy.
Với phần sửa chữa, thuyết minh số 12 xuất hiện khoản mục mới là chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ chờ phân bổ với 119,04 tỷ đồng, trong khi đầu năm 2026 khoản tương ứng bằng 0. Việc treo chi phí sang các kỳ sau giúp chi phí ghi vào kỳ hiện tại thấp đi.
Lãi tiền gửi 6 tháng bổ sung 132,68 tỷ đồng, tăng 92,6%. Ngược lại, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành lên 144,15 tỷ đồng, gấp 3,2 lần mức 45,10 tỷ đồng cùng kỳ, do NT2 hết ưu đãi thuế suất 10% và chuyển sang 20% từ năm 2026 theo thuyết minh số 27.
Tiền mặt còn 5,2 tỷ đồng, phải thu dồn vào một khách hàng
Tại ngày 30/06/2026, tiền và các khoản tương đương tiền của NT2 chỉ còn 5,23 tỷ đồng, giảm 76,6% so với 22,30 tỷ đồng đầu năm. So với tổng tài sản 10.784,40 tỷ đồng, lượng tiền sẵn có chiếm khoảng 0,05%.
Phần lớn nguồn tiền chuyển vào tiền gửi có kỳ hạn 4.721,54 tỷ đồng, lãi suất từ 4,2%/năm đến 8,1%/năm. Trong đó có 490.790.416 đồng gửi tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Việt Nam Hiện Đại đang tạm dừng giao dịch, và báo cáo chưa trích lập dự phòng cho khoản chưa rút được.
Cơ cấu phải thu càng cô đặc. Phải thu ngắn hạn của khách hàng đạt 4.410,08 tỷ đồng, riêng Công ty Mua bán điện chiếm 4.410,06 tỷ đồng, tương đương 99,99%. Khoản tiền chờ thu từ một khách hàng duy nhất bằng 40,9% tổng tài sản và tăng hơn 639 tỷ đồng chỉ trong 6 tháng.

Biểu đồ chứng khoán NT2 phiên ngày 7/8
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh 6 tháng dương 834,60 tỷ đồng, nhưng cấu thành gồm khoản tăng phải trả 1.003,49 tỷ đồng và khoản tăng phải thu âm 647,77 tỷ đồng. Tiền dương phần nhiều nhờ NT2 chậm trả nhà cung cấp hơn là nhờ thu được tiền bán điện.
Nợ phải trả tăng 22,3% lên 5.398,54 tỷ đồng và toàn bộ là nợ ngắn hạn. Vay ngắn hạn 1.661,11 tỷ đồng theo hợp đồng tín chấp số 009/TTH.KHDN/26NH với Vietcombank, chi phí lãi vay 6 tháng lên 40,46 tỷ đồng, tăng 32,5%.
Cộng các khoản tại thuyết minh số 13, số 16 và số 17, tổng nghĩa vụ của NT2 với Tổng Công ty Khí Việt Nam lên 3.456,12 tỷ đồng, gồm 1.898,79 tỷ đồng phải trả người bán, 1.518,06 tỷ đồng chi phí khí chưa xuất hóa đơn và 39,28 tỷ đồng lãi chậm thanh toán.
Trong khi công nợ phình ra, tiền chi cổ tức 6 tháng đầu năm 2026 chỉ 71,11 triệu đồng, so với 230,07 tỷ đồng cùng kỳ. Cùng lúc, thù lao Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, kế toán trưởng và Ban kiểm soát đạt 9,04 tỷ đồng, tăng 77,5%, còn lương nhân viên quản lý tăng 61,3% lên 23,38 tỷ đồng dù số lao động giữ nguyên 170 người.
Chi cho phần mềm 1,38 tỷ đồng và loạt nghĩa vụ chưa phản ánh
Với một nhà máy điện tham gia thị trường điện cạnh tranh, phần mềm điều khiển, hệ thống đo đếm và dữ liệu vận hành là hạ tầng sống còn. Song thuyết minh số 11 cho thấy tài sản cố định vô hình của NT2 chỉ còn 23,02 tỷ đồng, bằng 0,21% tổng tài sản, phần lớn là quyền sử dụng đất 21,60 tỷ đồng.
Giá trị còn lại của phần mềm chỉ 1,41 tỷ đồng, bằng 0,013% tổng tài sản. Trong 6 tháng, NT2 ghi tăng phần mềm 1,38 tỷ đồng, trong khi 9,40 tỷ đồng nguyên giá tài sản vô hình đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng, tương đương 82,5% nguyên giá phần mềm 11,38 tỷ đồng.
Nói cho dễ hiểu, hơn tám phần mười phần mềm mà NT2 đang dùng để chạy nhà máy đã hết giá trị trên sổ sách. Tổng tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định 6 tháng là 1,73 tỷ đồng, thấp hơn khoản thù lao 9,04 tỷ đồng chi cho lãnh đạo cùng kỳ.

Giá trị còn lại của phần mềm tại NT2 chỉ 1.414.078.784 đồng, trong khi 9.396.346.375 đồng nguyên giá tài sản vô hình đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng
Trên toàn bộ 32 thuyết minh, báo cáo không có khoản mục nào ghi chi cho nghiên cứu phát triển, chuyển đổi số, tự động hóa, phân tích dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo. Phần thiết bị vẫn phụ thuộc liên danh Siemens Energy theo hợp đồng bảo trì, sửa chữa dài hạn ký ngày 28/07/2023, kèm việc NT2 giữ hộ vật tư thuộc sở hữu nhà thầu.
Việc đối soát công nợ giữa các bên còn để lại hai khoản treo 14 năm. Phải thu lãi trả chậm từ Công ty Mua bán điện 42,15 tỷ đồng và phải trả lãi chậm cho Tổng Công ty Khí Việt Nam 39,28 tỷ đồng đều phát sinh đến ngày 31/12/2012 và giữ nguyên số dư. Thuyết minh số 30 nêu NT2 chưa nhận được hướng dẫn xử lý của Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam, nên phần lãi chậm trả từ năm 2013 chưa xuất hiện trên báo cáo.
Cùng thuyết minh, cuộc thanh tra chấp hành pháp luật về thuế theo Quyết định số 1632/QĐ-TCT ngày 08/11/2019 của Tổng Cục thuế cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2018 vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Vướng mắc liên quan thời điểm kê khai thuế giá trị gia tăng của doanh thu bán điện và chi phí mua khí. Sau gần bảy năm, NT2 vẫn tiếp tục giải trình.
Ban Giám đốc cũng đánh giá công ty có nghĩa vụ thu dọn, khôi phục và hoàn trả mặt bằng khi kết thúc dự án, song chưa ước tính giá trị vì chưa đủ thông tin đáng tin cậy, nên chưa trích lập dự phòng nào cho nghĩa vụ hoàn nguyên.
Toàn bộ số liệu trong bài lấy từ báo cáo tài chính quý 2/2026 do NT2 tự lập, chưa qua soát xét của kiểm toán độc lập. Các nội dung nêu trên là ghi nhận theo chính thuyết minh của công ty, chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Đình Tưởng
1 giờ trước
3 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
7 phút trước
18 phút trước
47 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước