🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Một số điểm mới và hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định 252/2026/NĐ-CP

2 giờ trước
Ngày 22/7/2026, Cục Thuế ban hành Công văn số 5061/CT-CS giới thiệu một số điểm mới và hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.

Quản lý thuế trong giai đoạn chuyển đổi số là một yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường khai thác dữ liệu và tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế

Khung pháp lý về quản lý thuế trong giai đoạn chuyển đổi số

Nghị định số 252/2026/NĐ-CP (Nghị định 252) được Chính phủ ban hành ngày 30/6/2026, gồm 07 chương, 76 điều, thay thế các quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, Nghị định số 91/2022/NĐ-CP và Nghị định số 117/2025/NĐ-CP.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, với nhiều quy định mới nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý thuế, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường khai thác dữ liệu và tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế (NNT) trong thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

Nhằm tập trung cao độ và khẩn trương triển khai Nghị định 252, Cục Thuế ban hành Công văn số 5061/CT-CS để giới thiệu các nội dung trọng tâm của Nghị định 252, đồng thời đề nghị các Thuế tỉnh, thành phố; Chi cục Thuế thương mại điện tử (TMĐT); Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định tới công chức thuế, NNT và các tổ chức, cá nhân có liên quan, bảo đảm việc triển khai thống nhất, hiệu quả.

Nghị định quy định toàn diện các nội dung về quản lý thuế như đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế, quản lý nợ và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Đồng thời, Nghị định bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng TMĐT, nền tảng số; hợp tác quốc tế về thuế; ứng dụng công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số trong quản lý thuế.

Việc ban hành Nghị định 252 góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phương thức quản lý thuế hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và định hướng lấy NNT làm trung tâm.

Tăng cường quản lý thuế đối với TMĐT, nền tảng số

Một trong những nội dung mới nổi bật của Nghị định 252 là hoàn thiện quy định về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng TMĐT, nền tảng số (tại Chương III, từ Điều 40 đến Điều 46).

Theo đó, quy định cá nhân là chủ quản nền tảng TMĐT có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán (trong nước và ngoài nước) thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) phải nộp theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng, pháp luật thuế thu nhập DN đối với từng giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu tại Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng TMĐT.

Quy định này nhằm mở rộng phạm vi trách nhiệm khấu trừ, nộp thay thuế của các chủ quản nền tảng TMĐT có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán, qua đó nâng cao hiệu quả thu thuế đối với hoạt động kinh doanh của nhà cung cấp nước ngoài phát sinh doanh thu tại Việt Nam.

Đồng thời, việc chuyển một phần trách nhiệm quản lý sang các nền tảng giúp giảm gánh nặng cho cơ quan thuế trong việc rà soát, phát hiện các nhà cung cấp nước ngoài chưa thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế, góp phần hạn chế thất thu ngân sách và nâng cao mức độ tuân thủ thuế.

Đẩy mạnh kết nối dữ liệu, giảm thủ tục hành chính thuế

Nghị định 252 tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính thuế thông qua việc tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế với các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Đáng chú ý, bổ sung quy định về thay đổi thông tin đăng ký thuế của cá nhân. Theo đó, cá nhân không phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế và thông tin được tự động đồng bộ; hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ tự động gửi thông báo cho NNT về thông tin đã được cập nhật.

Bên cạnh đó, Nghị định điều chỉnh thời hạn đăng ký thuế đối với một số trường hợp nhằm phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động; bổ sung trách nhiệm cung cấp, chia sẻ thông tin của các cơ quan nhà nước có liên quan, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu thuế đầy đủ, chính xác và đồng bộ.

Đối với trường hợp NNT chuyển địa điểm kinh doanh sang tỉnh, thành phố khác, sau khi hoàn tất thủ tục thay đổi địa chỉ, NNT được tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ thuế còn chưa hoàn thành với cơ quan thuế nơi đi, thay vì phải hoàn tất toàn bộ nghĩa vụ trước khi chuyển địa điểm như quy định trước đây.

Tạo thuận lợi trong khai thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế

Nghị định 252 bổ sung nhiều quy định theo hướng giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho NNT.

Theo đó, thời hạn NNT tự phát hiện sai sót và thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế được điều chỉnh từ 10 năm xuống còn 05 năm. Quy định này góp phần nâng cao tính chủ động, trách nhiệm của NNT, đồng thời phù hợp với yêu cầu quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro.

Nghị định cũng quy định miễn thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có số tiền thuế phải nộp từ 50.000 đồng trở xuống, góp phần giảm thủ tục hành chính đối với các khoản thuế có giá trị nhỏ.

Đối với hồ sơ hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thuộc diện kiểm tra trước tại trụ sở NNT, thời hạn giải quyết được rút ngắn, chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày có kết luận kiểm tra hoặc hoặc quyết định xử lý vi phạm (nếu có).

Hoàn thiện quản lý nợ thuế, bảo đảm quyền lợi NNT

Nghị định 252 bổ sung, hoàn thiện các quy định về quản lý nợ thuế và áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo hướng minh bạch, linh hoạt hơn.

Theo đó, cơ quan quản lý thuế thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi số tiền thuế nợ còn phải nộp dưới 50 triệu đồng đối với cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh hoặc dưới 500 triệu đồng đối với DN, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Trường hợp NNT đã khắc phục nghĩa vụ thuế, việc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện trên môi trường điện tử, góp phần tạo thuận lợi cho NNT, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.

Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung thẩm quyền xóa nợ cho Trưởng Thuế tỉnh, thành phố; Chi cục trưởng Chi cục Thuế DN lớn; Chi cục trưởng Chi cục Thuế TMĐT; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu và Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan. Việc bổ sung thẩm quyền này nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý thuế, giao thẩm quyền cho người đứng đầu các đơn vị trực tiếp quản lý NNT, rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ, giảm cấp trung gian.

Xây dựng nền quản lý thuế dựa trên dữ liệu

Một điểm mới quan trọng của Nghị định 252 là quy định toàn diện hơn về chuyển đổi số trong quản lý thuế, bao gồm hạ tầng số, cơ sở dữ liệu quản lý thuế, giao dịch điện tử, chia sẻ và kết nối dữ liệu theo nguyên tắc “chia sẻ một lần, sử dụng nhiều lần”.

Nghị định quy định việc kết nối, chia sẻ dữ liệu phải được thực hiện thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu số ngành tài chính và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; tuân thủ Khung kiến trúc số của Bộ Tài chính, các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống thông tin.

Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung đầy đủ về hình thức ưu tiên, phạm vi áp dụng, điều kiện áp dụng, trình tự công nhận, gia hạn, tạm dừng, thu hồi, cấp lại chế độ ưu tiên và cơ chế quản lý đối với NNT ưu tiên.

Việc triển khai Nghị định 252 là bước quan trọng trong quá trình tiếp tục đổi mới phương thức quản lý thuế theo hướng hiện đại, minh bạch, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ và dữ liệu; góp phần tạo môi trường thuận lợi cho người dân, DN thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thuế.

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ