🔍
Chuyên mục: Quản lý - Quy hoạch

Lập khung tiêu chí thống nhất từ Trung ương đến địa phương về bảo tồn và phát huy bản sắc kiến trúc

2 giờ trước
Phát biểu tại Tổ 6 (Đoàn ĐBQH thành phố Đồng Nai và tỉnh Thái Nguyên) chiều 6/8, ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương (TP. Đồng Nai) tán thành sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Đại biểu đề nghị nghiên cứu, định hướng để thiết lập khung tiêu chí thống nhất từ Trung ương đến địa phương về bảo tồn và phát huy bản sắc kiến trúc; đồng thời quy định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa ngành xây dựng với ngành văn hóa.

Bổ sung tiêu chí, quy chuẩn cụ thể cho công trình biểu tượng, công trình điểm nhấn

Nhấn mạnh sự cần thiết sửa đổi Luật với các lý do Chính phủ nêu tại Tờ trình, ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương khẳng định: Dự thảo Luật đã quán triệt tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị khi xác định kiến trúc không chỉ là hoạt động kỹ thuật, mà còn là một biểu hiện quan trọng của văn hóa trong không gian sống.

Đóng góp cụ thể vào dự thảo Luật về vấn đề thi tuyển, tuyển chọn kiến trúc, đại biểu nêu: Điểm b khoản 3 Điều 17 dự thảo đã quy định công trình biểu tượng, công trình quan trọng, điểm nhấn trong đô thị và trên các tuyến đường chính phải được xác định trên cơ sở quy hoạch hoặc trong quy chế quản lý kiến trúc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương (TP.Đồng Nai) phát biểu thảo luận tại Tổ 6. Ảnh: Khánh Duy

Tuy nhiên, theo đại biểu Lê Nữ Thùy Dương, tiêu chí “công trình là biểu tượng về truyền thống, văn hóa và lịch sử” và “công trình quan trọng, điểm nhấn trong đô thị” chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí, quy chuẩn cụ thể cho công trình biểu tượng, công trình quan trọng và công trình điểm nhấn.

Ngoài ra, đại biểu đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 17 nguyên tắc “quy định tại khoản này không áp dụng đối với công trình thuộc khoản 3 Điều này”; nhằm đảm bảo mọi công trình thuộc khoản 3 đều phải bảo đảm yêu cầu thi tuyển và chất lượng kiến trúc, không phân biệt nguồn vốn đầu tư.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị mở rộng nội hàm bản sắc đối với quần thể, cụm công trình và gắn với bảo tồn, phục hồi công trình kiến trúc có giá trị tại Điều 5 Luật Kiến trúc. Điểm a khoản 2 Điều 5 dự thảo hiện xác định bản sắc thông qua “khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình kiến trúc có giá trị cần bảo tồn, kế thừa”.

Theo đại biểu, nội hàm bản sắc phải bao gồm các quần thể kiến trúc, cụm công trình, làng cổ, phố cổ và đồng bộ, hài hòa với di sản văn hóa phi vật thể như phong tục, tập quán, tín ngưỡng và tri thức dân gian.

"Giá trị của một làng cổ, phố cổ hoặc cụm kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng nằm trong tổng thể quan hệ không gian, cảnh quan và đời sống sinh hoạt cộng đồng, mà không chỉ ở từng công trình riêng lẻ. Chính vì vậy, cần bổ sung các nội dung “quần thể, cụm công trình kiến trúc và không gian liên kết giữa các công trình” vào điểm a khoản 2 Điều 5; đồng thời xác định mối liên hệ giữa bản sắc kiến trúc với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể", đại biểu Lê Nữ Thùy Dương nêu quan điểm.

Ngoài ra, để đồng bộ với chính sách Nhà nước trong hoạt động kiến trúc tại Điều 6, đại biểu cho rằng, cần nghiên cứu mở rộng phạm vi sửa đổi đối với điểm c khoản 2 Điều 6, bổ sung hoạt động “phục hồi” công trình kiến trúc có giá trị chưa được xếp hạng di tích và thực hiện theo pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật có liên quan.

Quan tâm đến kiểm soát tầng cao, mật độ gắn với khả năng đáp ứng của hạ tầng đối với hoạt động kiến trúc tại đô thị, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương cho rằng, quản lý nhà nước trong hoạt động kiến trúc tại đô thị cần chú trọng quản lý “chiều cao” công trình, mật độ xây dựng gắn liền với tổng thể; “hiệu quả không gian đô thị”, bảo đảm sự gắn kết giữa kiến trúc công trình với năng lực chịu tải của hạ tầng giao thông và chất lượng không gian công cộng.

Các ĐBQH tham gia thảo luận tại Tổ 6. Ảnh: Khánh Duy

Dự thảo đã đề cập đến hình thái không gian, chiều cao và mật độ xây dựng tại Điều 5, đồng thời quy định chung về quản lý kiến trúc tại Điều 10 và Điều 14. Tuy nhiên, theo đại biểu mối quan hệ giữa tổ chức công trình cao tầng, mật độ xây dựng với khả năng đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông và giao thông công cộng cần được quy định trong Luật, nhưng phải phân định rành mạch với các chỉ tiêu cụ thể thuộc pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, pháp luật về xây dựng.

Đại biểu cho rằng, cần bổ sung vào khoản 1 Điều 11 nguyên tắc: "Hình thái không gian, chiều cao, mật độ xây dựng, khoảng lùi và tổ chức công trình cao tầng phải phù hợp với quy hoạch, tương thích với khả năng đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông, giao thông công cộng và không gian công cộng của khu vực; chỉ tiêu cụ thể thực hiện theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, pháp luật về xây dựng".

Ngoài ra, cần nghiên cứu và quản lý các khu vực liên quan tới cảnh quan du lịch theo hướng: Đối với khu vực ven sông, ven hồ, ven biển và khu vực có giá trị cảnh quan cao, cần chú trọng quy hoạch, bố trí không gian xanh, tầm nhìn cảnh quan, khoảng lùi và kiến trúc hài hòa với cảnh quan mặt nước.

Cụ thể hóa yêu cầu về kiến trúc xanh, vật liệu thân thiện với môi trường

Theo ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương, dự thảo Luật đã có các yêu cầu chung về bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại Điều 4, Điều 10 và Điều 12; khoản 2 Điều 11 cũng khuyến khích kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng đối với kiến trúc nông thôn. Tuy nhiên, quy định riêng đối với kiến trúc đô thị tại khoản 1 Điều 11 vẫn chưa thể hiện rõ ưu tiên sử dụng vật liệu xanh, vật liệu thân thiện với môi trường và giải pháp thiết kế giảm phát thải trong suốt vòng đời công trình, trong khi đô thị là khu vực tập trung mật độ xây dựng, tiêu thụ vật liệu và năng lượng lớn. Do đó, đại biểu kiến nghị bổ sung tại điểm b khoản 1 Điều 11 nguyên tắc ưu tiên vật liệu xanh, vật liệu thân thiện với môi trường và giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả; bổ sung tại khoản 3 Điều 12 nội dung khuyến khích thiết kế theo vòng đời công trình, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu có khả năng tái sử dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 6 (Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên và TP. Đồng Nai)

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 12 dự thảo quy định: “tiếp cận bình đẳng cho mọi đối tượng sử dụng công trình”. Theo đại biểu, quyền bình đẳng nên được quy định rõ cho các nhóm chủ thể cần được quan tâm để nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện, chẳng hạn quyền tiếp cận đối với người khiếm khuyết về thể chất, người khuyết tật, người cao tuổi và trẻ em với quy định như sau: đặc biệt đối với người có khiếm khuyết về thể chất, người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em và các nhóm dễ bị tổn thương....

Đặc biệt, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương cho rằng, cần ban hành khung định hướng kiến trúc theo vùng, miền về bảo tồn và phát huy bản sắc kiến trúc. Theo đại biểu, quản lý hoạt động kiến trúc trong phạm vi quốc gia cần được nghiên cứu, định hướng để thiết lập khung tiêu chí thống nhất từ Trung ương đến địa phương về bảo tồn và phát huy bản sắc kiến trúc; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng định hướng chung và cơ chế phối hợp giữa ngành xây dựng với ngành văn hóa.

Cùng với đó, ban hành khung định hướng kiến trúc theo từng vùng, miền, bao quát các yêu cầu về hình thái không gian, hình thức kiến trúc, vật liệu, màu sắc và khả năng thích ứng với điều kiện địa lý, khí hậu, cũng như đặc trưng văn hóa bản địa. Đồng thời, chú trọng tham vấn ý kiến cơ quan quản lý văn hóa, cộng đồng dân cư, người có uy tín và nghệ nhân am hiểu văn hóa truyền thống trong quá trình lập, điều chỉnh quy chế quản lý kiến trúc đối với khu vực có di sản văn hóa hoặc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm các quy định quản lý kiến trúc vừa thống nhất, khả thi, vừa tôn trọng và phản ánh đầy đủ giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương....

Tin: Nguyễn Ánh; Ảnh Khánh Duy

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ