Kỷ niệm 70 năm nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn hoạt động bí mật tại Miền Nam (1956 - 2026): Bài 2: Để lại cho nông dân 'Lá bùa hộ mệnh'
Gần ba phần tư thế kỷ đã trôi qua, ngược dòng thời gian nhìn lại sự "phát sáng" của "ngọn đèn hai trăm nến" trong tư duy chính trị và nhãn quan cách mạng của đ/c Bí thư Lê Duẩn, của tập thể Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta xiết bao phấn khởi, tự hào.
Những trang sử kháng chiến đã chứng minh rằng, "ngọn đèn hai trăm nến" này đã tỏa rạng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ. Nó để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá trong việc xây dựng căn cứ địa Cách mạng và hậu phương kháng chiến vững chắc ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, Căn cứ địa U Minh, Chiến Khu Đ..., cũng như trong các mũi đấu tranh giáp công với quân xâm lược Pháp cả về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội...
Điều đặc sắc là, nhờ có những sự phát sáng này, chúng ta đã ngăn chặn và hạn chế được tác hại của những khuynh hướng tư tưởng giáo điều và bệnh ấu trĩ tả khuynh trong một số lĩnh vực hoạt động như: Việc vận dụng chính sách ruộng đất của Đảng ở nông thôn, việc nôn nóng tổ chức thực hiện kế hoạch "chuẩn bị Tổng phản công", việc tiến hành "bao vây kinh tế địch", việc cấm sử dụng các loại hình ca nhạc tài tử và sân khấu cải lương trong vùng giải phóng, việc áp dụng phương pháp "đao to búa lớn" trong công tác chỉnh Đảng, chỉnh huấn, chỉnh quân như cách làm của Trung Quốc ở chiến khu Diên An trong thời kỳ kháng Nhật...

Đ/c Lê Duẩn thăm hỏi các gia đình từng là cơ sở bí mật của ông ở Miền Tây Nam Bộ
Một trong những điểm đặc sắc nhất trên chiến trường Nam Bộ là, khi quân Pháp đàn áp bung ra khỏi Sài Gòn, hướng về các tỉnh, chúng rải quân ra kiểm soát các trục giao thông chính, các thị xã, thị trấn. Đ/c Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các địa phương gấp rút xây dựng những căn cứ địa Cách mạng và hậu phương kháng chiến. Khắp nơi mọc lên những căn cứ lớn, nhỏ, gần, xa từ trong nội thành, nội thị dựa vào Nhân dân đến căn cứ quanh thành phố, nơi có địa hình thuận lợi và quần chúng Cách mạng ủng hộ.
Ở phía Bắc và Tây Bắc của vùng đất "Chín rồng", chúng ta có chiến khu bưng biền Đồng Tháp Mười, được mệnh danh là "Thủ đô kháng chiến" nổi tiếng trong nước và cả trên thế giới. Còn ở phía Tây đồng bằng này, rừng sác U Minh mênh mông bát ngát tạo nên căn cứ địa và hậu phương kháng chiến của các tỉnh Cà Mau, Rạch Giá, Khu 9, Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam.
Tại khu vực Miền Đông Nam Bộ, Chiến Khu Đ nằm giữa chốn rừng thiêng, nước độc, là căn cứ kháng chiến của tỉnh Biên Hòa, Khu 7. Điểm đặc sắc trong việc quán triệt vận dụng tư tưởng của Bác Hồ nhằm thực hiện chủ trương "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết", "Thành công, thành công, đại thành công", Xứ ủy Nam Bộ và đ/c Lê Duẩn đã cảm hóa được đội ngũ nhân sĩ trí thức đông đảo. Đặc biệt, vào tháng 5/1947, qua việc thực hiện Chỉ thị 41/NV của Ủy ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ về "đối xử với công chức và nhân viên đang hợp tác với Pháp", chúng ta đã thu được thắng lợi lớn. Tích cực hưởng ứng chỉ thị này, 6.000 công chức và 1.000 thợ chuyên môn tại các đô thị bị tạm chiếm, chủ yếu là ở Sài Gòn - Chợ Lớn, đã ra bưng biền tham gia kháng chiến, trong đó có Đô trưởng đương nhiệm thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là ông Phan Văn Chương.
Tư duy sáng tạo Cách mạng của đ/c Lê Duẩn trong 9 năm kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ, còn được thể hiện đậm nét trong việc thực hành chủ trương "người cày có ruộng". Tính đến cuối năm 1954 - năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, hầu hết nông dân trong khu giải phóng đã được hưởng chính sách"người nông dân có ruộng cày" không phải thông qua cuộc phát động tước đoạt bằng bạo lực, tiến hành đấu tố địa chủ.
Do đặc điểm về lịch sử và tính chất đặc thù của xã hội Nam Bộ, đ/c Lê Duẩn đã kiến nghị với Trung ương không tiến hành cải cách ruộng đất ở Nam Bộ, vì ở đây chúng ta đã có chủ trương chia ruộng đất của thực dân và Việt gian cho nông dân nghèo, đồng thời tiến hành vận động điền chủ hiến điền để chia lại đất cho nông dân. Chúng ta đều biết từ năm 1951, nông dân trong những vùng giải phóng (và cả vùng tranh chấp) ở Nam Bộ đã được tạm cấp ruộng đất. Nói là tạm cấp nhưng ai cũng hiểu là cấp thực sự. Chủ trương của ta lấy đất đồn điền của thực dân và của Việt gian đem chia, nhưng thực tế vì không có điều kiện và cũng không có cơ quan nào xác định ai là Việt gian, cho nên đất ở đâu không có chủ thì được đem chia cấp hết cho nông dân.
Một điều ngoạn mục nữa là điền chủ trong vùng giải phóng hầu hết đều hưởng ứng tốt chủ trương hiến điền, tạo thêm quỹ đất cho nông dân. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua việc thực hiện chủ trương của Xứ ủy khi mở các cuộc vận động mạnh mẽ địa chủ hiến điền. Vào đầu năm 1951, sau khi Ủy ban Mặt trận Liên Việt Nam Bộ mở cuộc hội nghị điền chủ, tại 4 tỉnh: Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng và Bạc Liêu, điền chủ đã hiến đến 114.263 héc-ta ruộng đất. Tính đến cuối năm 1951, ở Nam Bộ đã có đến 445.000 nông dân được cấp 253.682 héc-ta ruộng đất của Pháp và Việt gian. Tới năm 1953, tại một số vùng của hai tỉnh Bạc Liêu và Cần Thơ, chúng ta có thêm 240.000 héc-ta nữa để cấp thêm cho nông dân.
Như vậy, đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, Nam Bộ đã thực hiện xong về cơ bản khẩu hiệu "Người cày có ruộng". Chính sách ruộng đất đúng đắn đã được tổ chức thực hiện một cách triệt để trong kháng chiến, đã đưa đến kết quả là vừa nâng cao tinh thần Cách mạng của nông dân, vừa bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết nông thôn và tác động tốt đến thành thị. Đúng như lời đ/c Lê Duẩn từng nhận xét: "Đó là cái vốn chính trị quý giá, là "Lá bùa hộ mệnh" để lại ở Nam Bộ sau ngày bộ đội và cán bộ ta chuyển quân tập kết ra Miền Bắc.
Viết tới đây khiến tôi bồi hồi nhớ tới chuyện xưa. Trong khoảng thời gian từ giữa năm 1955 đến đầu mùa hè năm 1956, tôi có dịp tham gia công tác cải cách ruộng đất đợt 5 ở vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội và một vài địa phương tại đồng bằng châu thổ sông Hồng. Tôi đã trực tiếp mục sở thị những hộ nông dân chỉ được làm chủ sở hữu có 4 mẫu đất mà đã bị quy kết là thành phần địa chủ và bị đưa ra đấu tố. Trong khi ở chiến khu Đồng Tháp Mười, mỗi hộ nông dân được cơ quan chính quyền trong kháng chiến cấp ruộng đất, ao hồ... để sản xuất nông nghiệp với diện tích rộng tới "trăm ngang, ngàn dọc", cụ thể là một bề dài 100m x một bề 1.000m = 100.000m² (tương đương với 10 héc-ta).
Còn ở khu vực bán đảo Cà Mau và vùng Tây sông Hậu, sau khi được giảm tô giảm tức và tạm cấp đất, đời sống của bà con nông dân được nâng lên rõ rệt. Có nhiều xã thuộc các tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ... số trung nông chiếm tới 70%. Tầng lớp trung nông đã thực sự trở thành "nhân vật trung tâm ở nông thôn" trong căn cứ địa kháng chiến của ta.
Một trong những thành quả đặc sắc nhất của việc xây dựng căn cứ địa Cách mạng và hậu phương kháng chiến trên chiến trường Nam Bộ qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, là sự phát động sâu rộng phong trào "Đời sống mới" trong nông dân và nông thôn.
Lúc sinh thời, đ/c Võ Văn Kiệt đã từng ca ngợi về vấn đề này. Tháng 11/1999, sau khi đi công tác ở một số tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long về, nguyên Thủ tướng Chính phủ có viết một bức thư với tâm trạng bức xúc, gửi cho Thường vụ Tỉnh ủy của các tỉnh trong khu vực. Trong thư có đoạn: "Tôi đã chứng kiến một số hộ được công nhận là "gia đình văn hóa", song không đảm bảo được những yêu cầu tối thiểu của vệ sinh môi trường sống như ao, giếng nước không đủ sạch, nhà cửa ẩm thấp, cỏ dại mọc lan tràn tới tận vách... Trông thấy cảnh này, tôi xót xa nhớ tới hơn nửa thế kỷ trước đây, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhiều người ở đô thị vào vùng giải phóng thăm bè bạn, thân nhân, họ rất thán phục trước cuộc sống rất có văn hóa của đồng bào ta và các cơ quan kháng chiến. Nhà cửa tuy chỉ bằng cây lá thông thường nhưng cao ráo, cửa sổ thoáng mát, trong ngoài vệ sinh sạch sẽ. Đúng là cách ăn ở theo nề nếp của phong trào "Đời sống mới" như cách gọi của chúng ta thuở ấy. Ngày nay trong hòa bình, bà con có đủ điều kiện sinh hoạt về mọi mặt tốt hơn trước gấp bội phần mà chúng ta không làm được như vậy hay sao?".
Rõ ràng, những dòng tâm sự mà đ/c Võ Văn Kiệt đã viết trên đây chính là sự phát sáng từ ngọn "đèn hai trăm nến" trong tư duy lãnh đạo năng động và sáng tạo của đồng chí Bí thư Xứ ủy, Bí thư Trung ương Cục miền Nam - Lê Duẩn.
TRẦN HỮU PHƯỚC (Cán bộ nghiên cứu của Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ và Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam 1952 - 1954)
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
1 phút trước
8 phút trước
11 phút trước
16 phút trước
21 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
28 phút trước
29 phút trước
30 phút trước