🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Kỳ 1: Những 'mặt trận vô hình' của an ninh văn hóa

2 giờ trước
Có những mối đe dọa không xuất hiện bằng tiếng súng, không mang hình hài của một cuộc xung đột trực diện, song lại âm thầm tác động đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc, ký ức cộng đồng và khả năng tự chủ văn hóa của một quốc gia...

Trong quan niệm truyền thống, nói đến an ninh, người ta thường nghĩ tới biên giới, lãnh thổ, chủ quyền, tội phạm hay những nguy cơ có thể nhận diện tương đối rõ ràng. Nhưng trong kỷ nguyên số, có những mối đe dọa không xuất hiện bằng tiếng súng, không mang hình hài của một cuộc xung đột trực diện, song lại âm thầm tác động đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc, ký ức cộng đồng và khả năng tự chủ văn hóa của một quốc gia. Đó chính là những “mặt trận vô hình” đặt ra yêu cầu phải đổi mới căn bản tư duy quản trị an ninh phi truyền thống trong lĩnh vực văn hóa.

Những nguy cơ không còn mang hình hài quen thuộc

Văn hóa từ lâu đã được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, nguồn lực nội sinh và động lực của phát triển. Chính vì giữ vai trò nền tảng, văn hóa cũng trở thành một lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm trước những biến động của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ và môi trường.

An ninh văn hóa không chỉ là việc ngăn chặn những sản phẩm độc hại, phản cảm hay những hành vi xâm phạm di sản. Hiểu một cách đầy đủ hơn, đó là trạng thái trong đó bản sắc, hệ giá trị, ký ức lịch sử, quyền văn hóa, đời sống tinh thần và năng lực sáng tạo của cộng đồng được bảo vệ; đồng thời, xã hội có đủ khả năng nhận diện, hấp thụ có chọn lọc và chuyển hóa những ảnh hưởng từ bên ngoài thành nguồn lực cho phát triển.

Du khách không ngừng tìm kiếm và trải nghiệm du lịch văn hóa tại Ninh Bình - Ảnh: VGP/Diệp Anh

Như vậy, bảo đảm an ninh văn hóa không đồng nghĩa với khép kín văn hóa, càng không phải dựng lên những hàng rào ngăn cản giao lưu và sáng tạo. Một nền văn hóa càng có bản lĩnh càng không sợ đối thoại. Một xã hội càng tự tin về bản sắc càng có khả năng tiếp nhận tinh hoa nhân loại mà không đánh mất chính mình.

Tại cuộc gặp mặt các già làng, trưởng bản, nghệ nhân và người có uy tín tiêu biểu ngày 18/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Văn hóa không chỉ là bản sắc riêng của từng dân tộc, mà còn là sợi dây kết nối”. Phát biểu này gợi mở một cách nhìn rất quan trọng: bảo vệ văn hóa không chỉ là bảo vệ những biểu tượng hay thực hành riêng lẻ, mà còn là bảo vệ sự gắn kết xã hội, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nền tảng tinh thần tạo nên sự ổn định từ cơ sở.

Trong bối cảnh hiện nay, các nguy cơ đối với an ninh văn hóa ngày càng mang đầy đủ những đặc trưng của an ninh phi truyền thống: không giới hạn trong biên giới quốc gia; có khả năng lan truyền rất nhanh; liên quan đến nhiều chủ thể; khó xác định chính xác nguồn phát; đan xen giữa yếu tố bên trong và bên ngoài; giữa mục đích kinh tế, công nghệ với những tác động xã hội, chính trị và văn hóa.

Một video giả mạo có thể được tạo ra ở bất cứ đâu, phát tán qua nền tảng xuyên biên giới và tiếp cận hàng triệu người chỉ trong vài giờ. Một thuật toán đề xuất nội dung tưởng như thuần túy kỹ thuật có thể từng bước làm thay đổi thị hiếu, ngôn ngữ, hành vi và cách đánh giá đúng – sai của một bộ phận công chúng. Một di sản có thể còn nguyên về kiến trúc nhưng dần mất đi cộng đồng thực hành, ký ức và không gian văn hóa vốn tạo nên linh hồn của di sản ấy.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc Nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Đó là lý do không thể chỉ nhìn an ninh văn hóa qua những vụ việc riêng lẻ. Vấn đề cốt lõi nằm ở khả năng của quốc gia trong việc dự báo, phòng ngừa và quản trị những tác động tích lũy lâu dài đối với con người, cộng đồng và nền văn hóa.

Bốn lớp rủi ro đang đan xen

Lớp rủi ro đầu tiên và sâu xa nhất là rủi ro đối với hệ giá trị và niềm tin xã hội.

Văn hóa không chỉ tồn tại trong các bảo tàng, nhà hát hay di tích, mà trước hết tồn tại trong cách con người suy nghĩ, ứng xử và lựa chọn.

Khi thông tin sai lệch, nội dung giật gân, bạo lực, dung tục và sự xúc phạm người khác được lưu thông với tốc độ lớn, những hiện tượng ấy không chỉ làm “ô nhiễm” môi trường truyền thông. Chúng có thể làm mờ ranh giới giữa đúng và sai, bình thường hóa lệch chuẩn, khuyến khích tâm lý đám đông và làm suy giảm niềm tin vào con người cũng như các thiết chế xã hội.

An ninh mạng, an ninh thông tin và tội phạm công nghệ cao là một trong những mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng cấp bách. Ảnh minh họa: hvcsnd.edu.vn

Trí tuệ nhân tạo đang khiến nguy cơ này trở nên phức tạp hơn. Đầu năm 2026, mạng xã hội xuất hiện các bài viết, hình ảnh và video với nội dung nghệ sĩ, MC Quyền Linh bị bắt. Qua xác minh, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định đây là thông tin hoàn toàn sai sự thật, được tạo dựng bằng công nghệ AI để gây hiểu nhầm và dẫn dắt dư luận.

Ở đây, thiệt hại không chỉ thuộc về một cá nhân bị giả mạo. Nguy hiểm hơn là sự xói mòn niềm tin của công chúng vào hình ảnh, âm thanh và các bằng chứng vốn trước đây được xem là tương đối đáng tin cậy. Khi bất cứ khuôn mặt hay giọng nói nào cũng có thể bị làm giả, xã hội sẽ phải đối diện với một cuộc khủng hoảng mới: con người nhìn thấy nhưng không biết có nên tin hay không.

Lớp rủi ro thứ hai liên quan đến chủ quyền văn hóa, dữ liệu và nền tảng số.

Trong không gian truyền thống, một quốc gia có thể quản lý tương đối rõ ràng các kênh phổ biến và phân phối sản phẩm văn hóa. Nhưng trên môi trường số, phần lớn hoạt động tiếp nhận văn hóa của công chúng được trung gian hóa bởi các nền tảng xuyên biên giới. Những nền tảng này không đơn thuần chuyển tải nội dung; thuật toán của họ còn lựa chọn nội dung nào được nhìn thấy, nội dung nào bị chìm xuống và thị hiếu nào được khuyến khích phát triển.

Nếu không có năng lực sản xuất nội dung đủ mạnh, không làm chủ được dữ liệu, công nghệ và những kênh phân phối quan trọng, chúng ta có thể vẫn sở hữu một kho tàng văn hóa đồ sộ nhưng lại gặp khó khăn trong việc đưa kho tàng ấy đến với công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ khoảng cách giữa sức hấp dẫn của các giá trị văn hóa tích cực với tốc độ phát triển của nền tảng và nội dung số. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu: “Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam”, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số.

Đây không chỉ là yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, mà còn là một vấn đề an ninh. Dữ liệu di sản, tiếng nói, hình ảnh, biểu tượng, tri thức bản địa và sản phẩm sáng tạo đều là tài nguyên chiến lược. Nếu những nguồn tài nguyên ấy được số hóa, lưu trữ, khai thác và định giá chủ yếu bởi các chủ thể bên ngoài, quốc gia có thể mất dần khả năng tự quyết định cách thức văn hóa của mình được kể lại, phổ biến và sử dụng.

Lớp rủi ro thứ ba là sự tổn thương của di sản và đa dạng văn hóa trước biến đổi khí hậu, đô thị hóa, di dân và khai thác kinh tế quá mức.

An ninh di sản lâu nay thường được nhìn từ các nguy cơ như trộm cắp cổ vật, xâm phạm di tích hay xây dựng trái phép. Trong kỷ nguyên mới, di sản còn chịu sức ép từ thiên tai cực đoan, nước biển dâng, thay đổi môi trường sinh thái, phát triển đô thị và du lịch đại chúng.

UNESCO cho biết các đợt lũ trong tháng 10 và 11/2025 tại Hội An đã vượt những mức ghi nhận trước đây, làm ngập nhiều khu vực và đẩy nhanh quá trình xuống cấp của các công trình di sản dễ bị tổn thương. Sau thiên tai năm 2025, UNESCO đã phối hợp với Việt Nam thực hiện đánh giá kỹ thuật và các biện pháp bảo vệ khẩn cấp tại các khu di sản thế giới ở Huế, Hội An cùng một số địa điểm văn hóa khác.

Qua ví dụ này có thể thấy, bảo vệ di sản không thể chỉ là trùng tu sau khi công trình bị hư hại. Điều quan trọng hơn là phải tích hợp quản trị rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu, quy hoạch đô thị, sinh kế cộng đồng và bảo tồn văn hóa trong cùng một chiến lược.

1 trong các tiêu chí lựa chọn địa phương thực hiện thí điểm là đô thị có di sản văn hóa được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của địa phương.

Di sản cũng có thể mất đi ngay cả khi hiện vật vẫn còn. Một lễ hội được tổ chức thường xuyên nhưng bị tách khỏi cộng đồng chủ thể; một làng nghề còn sản phẩm nhưng không còn người trẻ tiếp nối; một không gian tín ngưỡng trở thành nơi phô diễn và mua bán trải nghiệm đơn thuần – đó đều là những dạng thức suy giảm an ninh văn hóa cần được nhận diện.

Lớp rủi ro thứ tư liên quan đến quyền tác giả, quyền lợi của người sáng tạo và sức sống của nền kinh tế văn hóa.

Trong môi trường số, một tác phẩm có thể bị sao chép, chỉnh sửa và phát tán trái phép với chi phí gần như bằng không. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo còn đặt ra nhiều câu hỏi mới: dữ liệu nào được sử dụng để huấn luyện hệ thống; tác giả có được biết và đồng ý hay không; ai sở hữu sản phẩm được tạo ra; quyền nhân thân của nghệ sĩ được bảo vệ như thế nào khi hình ảnh, giọng nói và phong cách của họ bị mô phỏng?

Tại Diễn đàn Bản quyền Việt Nam – Hàn Quốc năm 2026, các đại biểu nhận định sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nhanh chóng ngành công nghiệp nội dung, khiến chính sách bản quyền phải liên tục thay đổi và thích ứng. Các nội dung thảo luận tập trung vào ứng dụng công nghệ để giám sát, bảo vệ bản quyền, ngăn chặn xâm phạm và xây dựng những chuẩn mực mới trong thời đại AI.

Bản quyền vì thế không chỉ là câu chuyện lợi ích của một số nghệ sĩ hay doanh nghiệp. Khi lao động sáng tạo không được bảo vệ, người sáng tạo không thể sống bằng nghề, doanh nghiệp không muốn đầu tư dài hạn và thị trường bị chi phối bởi các sản phẩm sao chép, nền văn hóa sẽ mất dần năng lực sản xuất giá trị mới. Đó chính là một nguy cơ đối với an ninh và sức mạnh mềm quốc gia.

Điểm nghẽn không chỉ nằm ở pháp luật

Trước những nguy cơ ấy, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, an ninh mạng, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, báo chí và thông tin điện tử; đồng thời đẩy mạnh số hóa di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và đấu tranh với các hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là mô hình quản trị hiện nay vẫn còn nặng về phản ứng sau khi vụ việc đã xảy ra. Một nội dung sai lệch thường chỉ được xử lý sau khi đã lan truyền rộng. Một công trình di sản thường chỉ nhận được sự quan tâm đặc biệt khi đã xuống cấp. Một hành vi xâm phạm bản quyền thường chỉ trở thành vấn đề khi gây thiệt hại lớn hoặc tạo ra tranh luận xã hội.

Hệ thống pháp luật về văn hóa ngày càng được hoàn thiện cũng góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn văn hóa trong nhiều năm qua, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển.

Trong khi đó, bản chất của quản trị an ninh phi truyền thống là phải dự báo và phòng ngừa. Nếu chỉ chạy theo từng video giả, từng tài khoản vi phạm hay từng vụ việc phản cảm, cơ quan quản lý sẽ luôn chậm hơn tốc độ của công nghệ và thị trường.

Điểm nghẽn thứ hai là sự phân tán trong trách nhiệm quản lý. Một vụ việc văn hóa trên không gian mạng có thể đồng thời liên quan đến cơ quan văn hóa, thông tin, khoa học – công nghệ, công an, giáo dục, chính quyền địa phương, doanh nghiệp nền tảng và chủ thể sáng tạo. Nếu thiếu một cơ chế phối hợp thống nhất, việc xử lý dễ rơi vào tình trạng mỗi ngành chỉ giải quyết phần việc thuộc phạm vi của mình, trong khi nguyên nhân và tác động của vấn đề lại mang tính hệ thống.

Điểm nghẽn thứ ba là chúng ta chưa hình thành đầy đủ hệ thống dữ liệu, chỉ số và công cụ đánh giá rủi ro văn hóa. Không có dữ liệu đủ tin cậy, rất khó xác định mức độ tác động của thuật toán đối với trẻ em; quy mô thất thoát do xâm phạm bản quyền; nguy cơ mai một của một ngôn ngữ, nghề truyền thống hay thực hành văn hóa; cũng như khả năng chống chịu của di sản trước thiên tai.

Cuối cùng, cần tránh đồng nhất bảo đảm an ninh văn hóa với việc siết chặt hay hành chính hóa đời sống sáng tạo. Sự cấm đoán thiếu tiêu chí rõ ràng không làm cho văn hóa trở nên mạnh hơn, mà có thể tạo ra tâm lý e ngại, làm nghèo sự đa dạng và hạn chế năng lực đổi mới. Quản trị an ninh văn hóa phải hướng tới bảo vệ những điều kiện cần thiết để tự do sáng tạo được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, gắn với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Nhìn từ các nguy cơ đang hiện hữu, có thể thấy an ninh văn hóa không phải một lĩnh vực tách biệt, mà nằm ở điểm giao giữa an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh môi trường và phát triển bền vững. Vì thế, không một cơ quan hay lực lượng riêng lẻ nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ vấn đề.

Nhận diện đúng những “mặt trận vô hình” là bước đầu tiên. Bước tiếp theo, quan trọng hơn, là xây dựng một mô hình quản trị đủ khả năng đi trước nguy cơ, kết nối các chủ thể và biến sức mạnh văn hóa của toàn xã hội thành nền tảng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đó cũng là nội dung cần tiếp tục làm rõ trong kỳ sau: từ tư duy phòng thủ, xử lý sự vụ đến kiến tạo sức đề kháng và năng lực tự chủ văn hóa quốc gia.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ