🔍
Chuyên mục: Thời sự

Kiến tạo sức mạnh mềm Việt Nam từ Chiến lược văn hóa đối ngoại

1 giờ trước
Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định phát huy sức mạnh mềm văn hóa, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực - Ảnh minh họa: ITN.

Văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh quốc gia. Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo định hướng phát huy nguồn lực này, phục vụ phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Đưa văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia

Một trong những điểm nổi bật của Chiến lược là đặt văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu phát triển đất nước và nâng cao vị thế quốc gia. Các chỉ tiêu được xây dựng không chỉ hướng tới mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa mà còn góp phần tạo dựng thương hiệu quốc gia thông qua những giá trị văn hóa đặc sắc.

Đến năm 2030, Chiến lược hướng tới nâng cao hiện diện văn hóa của Việt Nam trên trường quốc tế với ít nhất 5 giải thưởng quốc tế uy tín, 5 di sản hoặc danh hiệu được ghi danh, 10 điểm đến du lịch văn hóa - di sản mang thương hiệu quốc gia và từ 1 đến 3 Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.

Đến năm 2045, Chiến lược đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm văn hóa, sáng tạo của khu vực; phát triển sức mạnh mềm trên nền tảng số; có thêm 15 giải thưởng quốc tế uy tín, 15 di sản được ghi danh, đăng cai một sự kiện văn hóa quy mô toàn cầu và nằm trong Top 3 ASEAN, Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm.

Những mục tiêu này cho thấy văn hóa không chỉ được nhìn nhận là lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống mà còn là nguồn lực góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín và sức cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.

Chiến lược xác định phát triển văn hóa đối ngoại là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Bên cạnh vai trò chỉ đạo, định hướng của Nhà nước, Chiến lược nhấn mạnh sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quảng bá và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục tiêu, Chiến lược tập trung hoàn thiện thể chế về văn hóa đối ngoại; hỗ trợ phát triển và quảng bá sản phẩm văn hóa, nhất là sản phẩm văn hóa số; khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội; đồng thời phát triển mô hình “Văn hóa - Thương mại - Du lịch - Đầu tư Việt Nam” và tăng cường bảo hộ các thương hiệu văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Chiến lược cũng chú trọng xây dựng đội ngũ làm công tác văn hóa đối ngoại có trình độ chuyên môn và khả năng hội nhập quốc tế; từng bước bố trí Tham tán hoặc Tùy viên văn hóa tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quảng bá văn hóa dân tộc; xây dựng và phát huy danh hiệu “Đại sứ văn hóa Việt Nam”.

Một nhóm giải pháp quan trọng khác là đổi mới phương thức quảng bá văn hóa. Theo đó, Việt Nam sẽ nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa đối ngoại trong các chuyến thăm cấp cao; đổi mới việc tổ chức Tuần, Ngày Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường hiện diện tại các liên hoan phim, triển lãm, hội chợ sách và các sự kiện văn hóa quốc tế.

Bên cạnh đó là quảng bá các biểu tượng văn hóa như áo dài, ẩm thực, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật; giới thiệu giá trị văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam; đẩy mạnh dịch thuật, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu bằng tiếng nước ngoài và tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 hằng năm.

Chuyển đổi số mở lối cho văn hóa đối ngoại

Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được xác định là một trong những nhóm giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả văn hóa đối ngoại.

Chiến lược đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia về văn hóa, phát triển kho nội dung số đa ngôn ngữ, đẩy mạnh số hóa tài nguyên văn hóa phục vụ quảng bá đối ngoại; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo, thực tế tăng cường và các nền tảng số trong giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, di sản và điểm đến du lịch Việt Nam; phát triển bảo tàng số, triển lãm trực tuyến và các không gian sáng tạo trên môi trường số.

Cùng với chuyển đổi số, Chiến lược hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa quy mô khu vực và quốc tế; phát huy vai trò của các địa phương có di sản được UNESCO ghi danh; tổ chức các chương trình dành cho báo chí quốc tế, người nổi tiếng và các nhà sáng tạo nội dung đến tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa Việt Nam.

Đồng thời, Chiến lược tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua việc hỗ trợ gìn giữ tiếng Việt và bản sắc văn hóa; nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; phát triển mạng lưới Việt Nam học toàn cầu và xây dựng mạng lưới “Bạn bè của văn hóa Việt Nam”, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Để bảo đảm triển khai thống nhất, Bộ VH,TT&DL được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện; hướng dẫn, đôn đốc và tổ chức sơ kết, tổng kết theo lộ trình. Bộ Ngoại giao cùng các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Việc ban hành Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tạo định hướng phát triển văn hóa đối ngoại trong giai đoạn mới, phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia.

Theo giới chuyên gia, khi các giá trị văn hóa được gắn kết với đối ngoại, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa và sự tham gia của toàn xã hội, văn hóa sẽ tiếp tục góp phần nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Trần Hòa

TIN LIÊN QUAN



































Home Icon VỀ TRANG CHỦ