🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Kiến tạo hệ sinh thái dữ liệu di sản

1 ngày trước
Trong kỷ nguyên công nghệ, quá trình số hóa đang từng bước chuyển đổi khối di sản đồ sộ của dân tộc thành hệ sinh thái dữ liệu khổng lồ. Bài toán chiến lược đặt ra hiện nay là làm thế nào kiến tạo giá trị, thúc đẩy thương mại hóa, biến nguồn dữ liệu thành động lực phát triển mới.

Công nghệ, văn hóa và thương mại

Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Việt Nam sở hữu bề dày văn hóa với hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, gần 50 di sản được UNESCO ghi danh. Trước đây, việc bảo tồn, nhất là các di tích chủ yếu dựa vào phương pháp vật lý, luôn phải đối mặt với nguy cơ mất mát bởi thời gian và sự biến đổi của đời sống xã hội. Giờ đây, công nghệ cho phép chúng ta vượt qua giới hạn đó để bảo lưu nguyên vẹn giá trị di sản.

Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 đã tạo ra cú hích lớn về mặt thể chế. Từ đây, hoạt động số hóa di sản văn hóa được đẩy mạnh, nổi bật là xây dựng cơ sở dữ liệu số, quét 3D di tích và ứng dụng thực tế ảo (VR/AR)… Một số dự án trọng điểm có thể kể đến như số hóa Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Cố đô Huế; bản đồ di sản số tại các địa phương như Hà Nội, Đồng Nai, Đà Nẵng…

Khu Thánh địa Mỹ Sơn qua lăng kính thực tế ảo

Trên môi trường số, nhiều dự án phỏng dựng không gian, kiến trúc cổ hay tái lập hiện vật mang đến trải nghiệm thị giác chân thật cho công chúng. Trong đó có dự án phỏng dựng không gian kiến trúc chùa Diên Hựu thời Lý bằng công nghệ thực tế ảo của nhóm Sen Heritage; phục dựng nguyên bản pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt chùa Báo Ân, phỏng dựng tháp lưu ly bằng sứ men trắng thời Lý do kiến trúc sư Đinh Việt Phương cùng PinArt thực hiện…

Tuy nhiên, cần nhìn nhận dữ liệu văn hóa ở phạm vi rộng, không đơn thuần là ảnh hay thước phim dạng tĩnh mà phải là hệ sinh thái siêu dữ liệu (metadata) liên kết chặt chẽ với bối cảnh lịch sử, câu chuyện văn hóa, đời sống xã hội... Với tư duy này, nhiều năm qua, Viện Bảo tồn di tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đã xây dựng kho tư liệu với hơn 3.000 hồ sơ di tích, từ các bản vẽ trên giấy dó đến các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu.

TS. Chu Thu Hường, Viện Bảo tồn di tích cho biết, việc xây dựng kho dữ liệu tập trung vào hai hướng chính: số hóa các lớp tài liệu và xây dựng hồ sơ 3D cho di tích. Mọi tài liệu, bản vẽ, phim tư liệu về quy trình trùng tu không chỉ được lưu trữ mà còn mở ra để công chúng dễ dàng tiếp cận. “Đây là hướng đi mới mẻ và tiềm năng, giúp bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh cách mạng công nghiệp”.

Tiềm năng khai thác cơ sở dữ liệu, tạo ra các sản phẩm phái sinh, bản sao số hoặc bán vé triển lãm trực tuyến… hứa hẹn tạo ra nguồn thu từ di sản. Đây cũng chính là định hướng quan trọng trong chiến lược đưa các ngành công nghiệp văn hóa đạt mục tiêu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thời gian tới Bộ sẽ tiếp tục xây dựng và hình thành cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa, dữ liệu đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, dữ liệu về tác phẩm văn học nghệ thuật…; đặc biệt, coi vai trò của số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu không chỉ nhằm bảo tồn mà mở ra con đường “kinh tế hóa” giá trị văn hóa.

Biến tài nguyên thành tài sản

Trong thời đại toàn cầu hóa, công nghệ, văn hóa và thương mại đã hình thành mối quan hệ cộng sinh: văn hóa cung cấp bản sắc, công nghệ mang lại phương tiện sáng tạo, còn thương mại đóng vai trò lan tỏa và chuyển hóa giá trị văn hóa thành lợi ích kinh tế để tiếp tục “tái sinh” di sản. PGS. TS. Lê Quý Đức, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích: thường những giá trị truyền thống chỉ có ý nghĩa trong một cộng đồng định sẵn. Tuy nhiên ngày nay, công nghệ có thể nhân lên, mở rộng không gian đó tới cả thế giới. Điều này càng thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế di sản.

Đơn cử tại Đà Nẵng thời gian qua đã đẩy mạnh số hóa 3D nhiều hiện vật tiêu biểu trong hệ thống bảo tàng và di tích Chăm, thiết lập bản đồ di sản văn hóa Đà Nẵng qua phần mềm, cung cấp dịch vụ trải nghiệm mới cho du khách. Ông Nguyễn Thanh Hồng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng kỳ vọng: “Chúng ta không chỉ gìn giữ quá khứ cho con cháu mà còn biến di sản thành tài sản, đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố. Hệ thống dữ liệu số sẽ đưa Đà Nẵng sớm trở thành hình mẫu tiên phong về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong kỷ nguyên 4.0”.

Các mô hình truy cập, khai thác dữ liệu di sản số, du lịch số… hoàn toàn có thể tạo ra doanh thu khổng lồ. Tuy nhiên, để đóng góp cho nền kinh tế sáng tạo, cần một chiến lược dữ liệu thống nhất, khung pháp lý bảo vệ bản quyền số minh bạch, cùng đội ngũ nhân lực am hiểu liên ngành cũng như các chính sách ưu đãi phù hợp. Nói như GS. TS. Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam: “Các cơ quan quản lý phải chuyển từ tư duy ôm giữ bảo vệ sang kết nối và kiến tạo, đóng vai trò là bệ phóng hỗ trợ các startup (công ty khởi nghiệp) công nghệ - nghệ thuật tiếp cận nguồn vốn và dữ liệu di sản”.

Để hiện thực hóa con đường này, ngày 24/4, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026) quy định cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa. Trong đó, các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số và phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn hóa sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế, phí và lệ phí. Quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy số hóa di sản, giúp kho dữ liệu được chuyển hóa dưới hình thức đa dạng, kết hợp hài hòa công nghệ, văn hóa và giá trị thương mại.

Khôi Nguyên

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ