🔍
Chuyên mục: Kinh doanh

Đánh thức di sản bằng công nghệ số

2 giờ trước
Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về 'Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới' đã đặt ra nhiệm vụ chuyển hóa di sản từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, đưa di sản trở thành nguồn lực, động lực cho phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy vậy, hành trình đánh thức di sản bằng công nghệ vẫn đối mặt với không ít trở ngại.

Kiến trúc sư (KTS) Đinh Việt Phương, Giám đốc 3DART, người bền bỉ theo đuổi hành trình ý nghĩa này suốt hơn 20 năm qua, đã có cuộc trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội về vấn đề này.

Ra mắt trải nghiệm di sản số "Việt Nam diệu sử" tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Tỉ lệ số hóa di sản còn thấp

- Thưa KTS Đinh Việt Phương, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” nhấn mạnh việc coi di sản là nguồn lực nội sinh, kết hợp với công nghệ số để tạo ra giá trị kinh tế. Ông đánh giá như thế nào về quan điểm này?

- Có thể nói, Nghị quyết 02-NQ/TW đã xác định đúng trọng tâm của sự phát triển. Di sản không chỉ để trưng bày trong tủ kính, mà phải là một thực thể “sống”, có khả năng sinh lời và tạo sức mạnh văn hóa. Thực tế, đây cũng chính là niềm tin đã thôi thúc tôi suốt 20 năm qua, khi tự bỏ tiền túi cùng anh em triển khai các dự án như phục dựng 3D phố cổ Hà Nội hay không gian Hà Nội 1946.

Chúng tôi tin rằng công nghệ số chính là “cỗ máy thời gian”, đưa di sản từ quá khứ vào thẳng nền kinh tế đương đại, biến những giá trị xưa cũ thành nguồn lực nội sinh quý giá, góp phần tạo dựng “quyền lực mềm” cho Thủ đô.

- Hơn 20 năm theo đuổi hành trình “đánh thức” di sản bằng công nghệ số, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng di sản của Hà Nội và khả năng “chuyển hóa di sản thành tài sản sống”?

- Hà Nội sở hữu một “mỏ vàng” khổng lồ, nhưng việc khai thác vẫn chủ yếu ở dạng “quặng thô”. Thực tế cho thấy, di sản rất phong phú song các sản phẩm trải nghiệm lại vô cùng thiếu.

Hiện tỉ lệ di sản tiêu biểu được số hóa bài bản tại Hà Nội mới đạt khoảng 10-15%. Về năng lực công nghệ, kỹ sư Việt Nam không hề thua kém Singapore hay Bangkok. Tuy nhiên, các quốc gia này có chiến lược đồng bộ ở cấp quốc gia. Chẳng hạn, Singapore đã hoàn thiện “bản sao số” (Digital Twin) cho toàn bộ thành phố. Trong khi đó, ở Việt Nam, những thành quả số hóa chuyên sâu phần lớn vẫn đến từ sự “tự bơi”, tự đầu tư của các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân.

Chúng ta nói đến việc “chuyển hóa di sản thành tài sản sống”, hình thành các “mạch sáng tạo” và trục “Di sản - Tri thức - Công nghệ”, tức là di sản phải hiện diện trong đời sống hằng ngày của người dân. Ví dụ, tôi đã trực tiếp ứng dụng công nghệ quét và mô phỏng 3D để phục dựng pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích, sau đó thu nhỏ bằng công nghệ in 3D. Đây là cách đưa một bảo vật quốc gia từ không gian tĩnh lặng vào đời sống, giúp thế hệ trẻ có thể thực sự “chạm” vào di sản.

- Thưa ông, Nghị quyết 02-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng hệ sinh thái số dựa trên “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo”. Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực này, ông nhận thấy đâu là những rào cản lớn nhất trong việc số hóa di sản ở Hà Nội?

- Hạn chế lớn nhất là sự đứt gãy liên kết giữa ba nhà: Nhà nghiên cứu lịch sử, nhà công nghệ và nhà quản lý. Chúng ta đang thiếu một bộ quy chuẩn dữ liệu chung. Kinh nghiệm từ 3DART cho thấy, để một dự án số hóa có "hồn cốt", đội ngũ công nghệ như chúng tôi phải tự đi tìm, gõ cửa các chuyên gia văn hóa, lịch sử để đối chiếu từng hoa văn. Việc thiếu một "nhạc trưởng" để gắn kết, chuẩn hóa dữ liệu khiến hệ sinh thái số phát triển manh mún, chưa phát huy được sức mạnh tổng thể.

Ngoài ra, Nghị quyết cũng đặt ra lộ trình rõ ràng: Từ số hóa dữ liệu, tạo trải nghiệm số, phát triển kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa. Nhưng Hà Nội đang ở điểm giao thoa giữa giai đoạn 1 (điện tử hóa) và giai đoạn 2 (tương tác AR/VR). Rào cản lớn nhất hiện nay chính là sự thiếu hụt dữ liệu gốc chất lượng cao. Nếu chỉ chụp vài bức ảnh 2D đưa lên website thì không thể gọi là số hóa di sản.

Do vậy, giải pháp khắc phục là phải thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe. Trong mọi dự án, tôi luôn yêu cầu dùng máy quét 3D chuyên dụng để lấy dữ liệu chính xác đến từng milimet. Chính những khối dữ liệu này mới là nền tảng vững chắc để làm AR, VR hay Metaverse sau này.

Giải quyết “vùng xám” về quyền sở hữu trí tuệ và nhân lực số hóa

- Thưa ông, bên cạnh những rào cản nêu trên, các cá nhân và doanh nghiệp trong lĩnh vực số hóa di sản có gặp khó khăn về sở hữu trí tuệ và việc thương mại hóa sản phẩm di sản số không?

Kiến trúc sư Đinh Việt Phương.

- Dù Luật Di sản văn hóa 2024 đã đề cập đến số hóa, nhưng thực tế vẫn tồn tại một "vùng xám" rất lớn về quyền sở hữu đối với các "dữ liệu phái sinh" từ di sản. Khi tôi tự bỏ vốn, dùng công nghệ tạo ra bản quét 3D chuẩn xác của một pho tượng cổ, câu hỏi nhức nhối là: Ai thực sự nắm quyền sở hữu trí tuệ file 3D đó? Chúng tôi có được phép khai thác thương mại (in 3D, làm ứng dụng) từ "dữ liệu phái sinh" do mình tạo ra không?

Do vậy, Hà Nội rất cần cơ chế đặc thù, phân định rạch ròi giữa "quyền sở hữu hiện vật gốc" (thuộc Nhà nước) và "quyền sở hữu dữ liệu phái sinh" (thuộc đơn vị đầu tư). Cần coi dữ liệu phái sinh là tài sản số được phép giao dịch để thu hút nguồn lực xã hội hóa.

Từ kinh nghiệm tự đầu tư bao năm qua, tôi cho rằng cơ chế đột phá nhất là "nhượng quyền khai thác di sản số". Nhà nước không cần chi ngân sách để số hóa mọi thứ. Hãy cho phép các doanh nghiệp công nghệ tự bỏ vốn số hóa các cụm di tích. Đổi lại, doanh nghiệp được quyền kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng phái sinh như bán vé tour AR/VR, kinh doanh vật phẩm in 3D, thu phí trên Mobile App trong một khoảng thời gian nhất định. Cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng này sẽ là động lực lớn nhất để tư nhân mang công nghệ tối tân nhất về cho Thủ đô.

Thêm nữa, có một thực tế là, chúng ta đang có rất nhiều kỹ sư IT giỏi viết code, nhưng lại khan hiếm trầm trọng "Kiến trúc sư di sản số" - những người vừa có gu thẩm mỹ, hiểu biết về kiến trúc cổ, lịch sử, lại vừa làm chủ công nghệ. Giải pháp căn cơ là các trường đại học cần mở gấp các chuyên ngành "Nhân văn số" (Digital Humanities), kết hợp chặt chẽ giữa khoa học máy tính và khoa học xã hội.

- Vậy theo ông, để di sản số thực sự tạo ra giá trị kinh tế, Thành phố cần triển khai những giải pháp đồng bộ như thế nào?

- Thành phố cần một “kiềng ba chân” vững chắc.

Về chính sách, cần coi chi phí số hóa di sản là một khoản đầu tư phát triển, từ đó có cơ chế ưu đãi về thuế và đất đai cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nội dung văn hóa số.

Về nguồn lực, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng định hướng và thẩm định tính xác thực lịch sử; còn việc triển khai công nghệ nên giao cho khu vực tư nhân đảm nhiệm.

Về hợp tác, cần hình thành cổng dữ liệu mở. Khi dữ liệu di sản được liên thông, các nhà sáng tạo có thể khai thác làm chất liệu cho thiết kế game, phim kỹ xảo, thời trang..., qua đó thúc đẩy hình thành một nền kinh tế sáng tạo thực chất.

Dưới góc độ cá nhân, tôi cho rằng trong 2-3 năm tới, Hà Nội cần ưu tiên các dự án mang tính nền tảng, đồng thời có khả năng tạo nguồn thu trực tiếp.

Thứ nhất, xây dựng Hà Nội Digital Twin, tức bản sao số 3D của các cụm di tích lõi của Thủ đô, gắn với một trung tâm cơ sở dữ liệu số về di sản.

Thứ hai, phát triển hệ sinh thái di sản trên nền tảng ứng dụng di động và website, kết hợp linh hoạt các công nghệ như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và in 3D. Chẳng hạn, khi tham quan Hoàng thành Thăng Long, du khách chỉ cần mở ứng dụng, công nghệ AR có thể tái hiện không gian cung điện xưa ngay trên màn hình. Đồng thời, họ cũng có thể đặt mua các bản sao bảo vật được in 3D với độ tinh xảo cao. Đây là cách khai thác hiệu quả, đưa di sản trở thành sản phẩm của kinh tế số.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Nguyễn Thủy thực hiện

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ