Kiên định 'bốn nguyên tắc' – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 'hai con số'
Trong các định hướng chiến lược gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào “Kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây là giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, đòi hỏi đất nước phải tận dụng tối đa thời cơ, phát huy mạnh mẽ nội lực và tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Trong bối cảnh đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” không chỉ là một chỉ tiêu mang tính khát vọng mà trở thành yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn phát triển đất nước. Khoảng cách về trình độ phát triển giữa Việt Nam và các quốc gia tiên tiến trong khu vực chỉ có thể được rút ngắn bằng tốc độ tăng trưởng bứt phá, liên tục và bền vững.
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh luôn đi kèm với những áp lực lớn về ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo vệ môi trường. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn phải bảo đảm tính bền vững, thực chất và bao trùm. Tại bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV ngày 25/3, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” không chỉ là chỉ số kỹ thuật mà là đòi hỏi khách quan để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2045. Đồng thời, để đạt được tốc độ phát triển cao nhưng bền vững, cần quán triệt sâu sắc “Bốn nguyên tắc” cốt lõi trong điều hành phát triển.
“Bốn nguyên tắc” cốt lõi – động lực cho tăng trưởng bền vững.
Bốn nguyên tắc bao gồm: bảo đảm tính thực chất trong giá trị tăng trưởng; giữ vững ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn; nâng cao tính khoa học trong quản trị và phân bổ nguồn lực; đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Đây là những định hướng mang tính nền tảng nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng “hai con số” không trở thành áp lực hình thức hoặc chạy theo thành tích ngắn hạn, mà gắn với chất lượng và hiệu quả phát triển lâu dài. Việc nghiên cứu, phân tích và vận dụng đồng bộ các nguyên tắc trên không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế mà còn là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, an ninh và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kiên định “bốn nguyên tắc” – Chìa khóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, không thể duy trì tư duy tăng trưởng dàn trải hoặc chạy theo số lượng. Các nguyên tắc được Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ ra là sự kết hợp giữa quy luật kinh tế khách quan và đặc thù chính trị – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Bốn nguyên tắc này vừa đóng vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng nhanh, vừa là “rào chắn” bảo đảm tính bền vững lâu dài của nền kinh tế. Đồng thời, các nguyên tắc này cũng được cụ thể hóa trong hệ thống nghị quyết quan trọng của Trung ương như Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW. Đây là cơ sở chính trị quan trọng đảm bảo cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thứ nhất, kiên định tăng trưởng thực chất: Đây là nguyên tắc mang tính định hướng giá trị, yêu cầu từ bỏ tư duy chạy theo “con số ảo”. Tăng trưởng “hai con số” phải gắn với nâng cao chất lượng, hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng nội địa. Nguyên tắc này gắn chặt với Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đồng thời, Nghị quyết 68-NQ/TW nhấn mạnh vai trò động lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh. Bên cạnh đó, Nghị quyết 71-NQ/TW về giáo dục và đào tạo tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố quyết định để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng vốn và lao động sang kinh tế trí thức.
Như vậy, tăng trưởng thực chất phải dựa chủ yếu vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời bảo đảm phát triển bền vững, không đánh đổi môi trường, tài nguyên hay gia tăng gánh nặng nợ công. Một nền kinh tế mạnh phải dựa trên năng lực cạnh tranh quốc gia và sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
Thứ hai, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô: Nếu tăng trưởng là mục tiêu, thì ổn định vĩ mô là nền tảng để đạt mục tiêu đó. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, việc giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và nợ công là điều kiện tiên quyết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giúp tạo môi trường ổn định, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài, từ đó duy trì niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Ngoài ra, ổn định vĩ mô là nền tảng của tăng trưởng bền vững. Nội dung này gắn với Nghị quyết 79-NQ/TW về phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng, tài chính và các lĩnh vực thiết yếu. Đồng thời, Nghị quyết 59-NQ/TW về đường lối đối ngoại trong tình hình mới góp phần mở rộng không gian phát triển, đa dạng hóa thị trường, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Sự kết hợp giữa nội lực vững chắc và hội nhập quốc tế chủ động sẽ tạo nền tảng ổn định cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thứ ba, kiên định tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy hợp tác công – tư: Nguồn lực quốc gia hữu hạn đòi hỏi phải được phân bổ khoa học và hiệu quả. Đầu tư công cần đóng vai trò dẫn dắt, tập trung vào các công trình hạ tầng chiến lược, tránh dàn trải, lãng phí. Đồng thời, phát triển mô hình đối tác công – tư (PPP) nhằm huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân, kết hợp vai trò kiến tạo của Nhà nước với tính năng động của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế – xã hội phải trở thành tiêu chí quan trọng nhất trong đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư.
Do vậy, việc sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia gắn liền với yêu cầu hoàn thiện thể chế và phát triển các thành phần kinh tế. Nghị quyết 66-NQ/TW nhấn mạnh xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, tạo môi trường thuận lợi để khơi thông nguồn lực xã hội. Nghị quyết 68-NQ/TW thúc đẩy kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực hạ tầng và dịch vụ công thông qua mô hình hợp tác công – tư. Đồng thời, Nghị quyết 79-NQ/TW xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt. Sự phối hợp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân sẽ tạo ra nguồn lực tổng hợp, nâng cao hiệu quả đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng.
Thứ tư, kiên định tăng trưởng vì lợi ích nhân dân và công bằng xã hội: Đây là nguyên tắc thể hiện rõ định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao đời sống nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bao trùm. Thành quả của tăng trưởng cần được phân phối hợp lý, đặc biệt quan tâm đến vùng khó khăn và các nhóm yếu thế. Khi lợi ích của người dân được bảo đảm, sẽ tạo ra sự đồng thuận xã hội – yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững lâu dài.
Đây là nguyên tắc thể hiện rõ định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Nghị quyết 71-NQ/TW về đổi mới giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo cơ hội phát triển công bằng cho mọi tầng lớp. Đồng thời, Nghị quyết 59-NQ/TW thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn lực phục vụ phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân dân. Khi tăng trưởng gắn với nâng cao phúc lợi xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, việc làm, y tế, sẽ tạo ra sự đồng thuận xã hội – nền tảng cho phát triển lâu dài.
Những ý nghĩa quan trọng của “bốn nguyên tắc”
Ý nghĩa quan trọng đầu tiên của “Bốn nguyên tắc” là xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa vào năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo. Nội dung này gắn trực tiếp với Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số - động lực chủ yếu của tăng trưởng; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân - lực lượng năng động trong đổi mới sáng tạo; và Nghị quyết số 71-NQ/TW về đổi mới giáo dục đào tạo - nền tảng hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc vận dụng đồng bộ các nghị quyết này giúp nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, tạo ra tăng trưởng thực chất, tránh phụ thuộc vào vốn và lao động giản đơn, từ đó tạo nền tảng vững chắc để đạt tốc độ tăng trưởng “hai con số”.
“Bốn nguyên tắc” nhấn mạnh ổn định vĩ mô là nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững. Ý nghĩa này gắn với Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh năng lượng, tài chính và các lĩnh vực thiết yếu. Đồng thời, Nghị quyết số 59-NQ/TW về đường lối đối ngoại trong tình hình mới giúp mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, đa dạng hóa đối tác và giảm thiểu rủi ro từ bên ngoài. Sự kết hợp giữa nội lực vững chắc và hội nhập chủ động tạo điều kiện để nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn ổn định và bền vững.
Một ý nghĩa quan trọng khác của “Bốn nguyên tắc” là sử dụng hiệu quả các nguồn lực, kết hợp hài hòa giữa Nhà nước và thị trường. Nội dung này gắn với Nghị quyết số 66-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật minh bạch nhằm khơi thông nguồn lực xã hội; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân để huy động nguồn lực từ doanh nghiệp; và Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực chiến lược. Việc vận dụng đồng bộ các nghị quyết này giúp nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy hợp tác công – tư và tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ.
Ý nghĩa cuối cùng của “Bốn nguyên tắc” là khẳng định tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bao trùm và công bằng xã hội. Điều này gắn với Nghị quyết số 71-NQ/TW về nâng cao chất lượng giáo dục, tạo cơ hội phát triển bình đẳng; đồng thời Nghị quyết số 59 - NQ/TW góp phần thu hút nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển bền vững. Khi tăng trưởng đi đôi với nâng cao phúc lợi xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển, sự đồng thuận xã hội sẽ trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số”.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc kiên định “Bốn nguyên tắc” có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với mô hình phát triển của Việt Nam. Đây không chỉ là hệ tiêu chí bảo đảm tăng trưởng thực chất, ổn định vĩ mô, tối ưu hóa nguồn lực và phát triển vì con người, mà còn là cơ sở để vận dụng đồng bộ các chủ trương lớn của Đảng trong các lĩnh vực then chốt. Thông qua việc gắn kết với các nghị quyết về khoa học – công nghệ, đối ngoại, xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục đào tạo và phát huy vai trò kinh tế nhà nước, “Bốn nguyên tắc” trở thành nền tảng lý luận và thực tiễn để thúc đẩy động lực tăng trưởng mới.
Việc quán triệt và vận dụng “Bốn nguyên tắc” trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với công tác giáo dục và đào tạo trong các trường Công an nhân dân (CAND). Các nguyên tắc này góp phần chuyển mạnh quá trình đào tạo từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện, gắn lý luận với thực tiễn, lấy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số làm động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, việc bảo đảm ổn định nền tảng, tối ưu hóa nguồn lực đào tạo và phát triển vì con người giúp các nhà trường xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, hiệu quả và bền vững. Trên cơ sở đó, các trường CAND cần đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo. Khi “Bốn nguyên tắc” được triển khai đồng bộ trong giáo dục và đào tạo, các nhà trường sẽ góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng CAND, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trung tá, TS Lưu Tuấn Hiếu, Học viện Chính trị CAND
12 giờ trước
12 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
17 phút trước
45 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
11 phút trước
11 phút trước
15 phút trước
16 phút trước