🔍
Chuyên mục: Thời sự

Phát huy vai trò của khoa học xã hội trong tham mưu chính sách và phát triển đất nước

1 giờ trước
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã thông qua nhiều nội dung quan trọng, đồng thời đề ra các định hướng lớn cho phát triển đất nước. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã phỏng vấn Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về những nội dung này.

GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ảnh: Lê Đông/TTXVN

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý chủ trương chuyển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Theo Giáo sư, sự điều chỉnh này có ý nghĩa như thế nào đối với việc phát huy vai trò của khoa học xã hội trong định hướng nhận thức, tạo đồng thuận xã hội và phục vụ hoạch định chính sách?

Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã đặt “bốn kiên định” lên vị trí hàng đầu trong công tác chính trị, tư tưởng, đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng.

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc nhất quán “bốn kiên định” đối với cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng. Đây cũng chính là yêu cầu trực tiếp đặt lên vai Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với tư cách là cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu của đất nước.

Đặc biệt, ngay tại Hội nghị Trung ương 2 lần này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý chủ trương chuyển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là một quyết định có tầm chiến lược, tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi để Viện Hàn lâm phát huy sứ mệnh và thế mạnh khoa học của mình. Khi các nghiên cứu của Viện Hàn lâm được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, khoảng cách giữa tư duy lý luận và định hướng chính trị, giữa khoa học cơ bản và thực tiễn phát triển sẽ được rút ngắn đáng kể. Đó chính là điều kiện nền tảng để biến “bốn kiên định” từ nguyên tắc chính trị thành hành động nghiên cứu và tư vấn chính sách thực chất.

Yêu cầu này đặt ra cho Viện Hàn lâm các nhiệm vụ cốt lõi, trước hết là trở thành chỗ dựa lý luận vững chắc, cung cấp luận cứ khoa học làm sáng tỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, tư vấn chính sách, giải đáp những vấn đề mà thực tiễn phát triển đất nước đang đặt ra.

Cùng với đó, định hướng nghiên cứu cần được đổi mới theo hướng gắn với thể chế, chính sách và cuộc sống. Tổng Bí thư yêu cầu đổi mới công tác chính trị, tư tưởng theo hướng “thực chất”, vì vậy sản phẩm nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở các công trình học thuật mà phải chuyển hóa thành các kiến nghị cụ thể, có địa chỉ rõ ràng, có thể triển khai. Với vị thế mới, cơ chế chuyển tải kết quả nghiên cứu trực tiếp đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng sẽ thông suốt và hiệu quả hơn, tạo điều kiện để phát huy tối đa lợi thế của Viện.

Bên cạnh đó, việc tập trung nghiên cứu các vấn đề chiến lược lớn mà Hội nghị đặt ra, như công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng và hệ thống chính trị, mô hình tăng trưởng hai con số bảo đảm thực chất và bền vững, quản trị chính quyền địa phương hai cấp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với tạo động lực đổi mới sáng tạo, cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh trong kỷ nguyên mới, sẽ giúp khoa học xã hội đóng góp trực tiếp và rõ nét hơn vào việc thực hiện các quyết sách của Trung ương.

“Bốn kiên định” không những không hạn chế không gian nghiên cứu khoa học mà còn là kim chỉ Nam để Viện Hàn lâm xác định đúng trọng tâm, làm đúng việc, nâng cao tính thực chất và đóng góp có trách nhiệm hơn cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Hội nghị nhấn mạnh “phân công, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm soát quyền lực”, đồng thời cá thể hóa trách nhiệm cá nhân. Theo Giáo sư, những định hướng này cần được cụ thể hóa như thế nào?

Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã thể chế hóa hai nguyên tắc quản trị mang tính bước ngoặt là phân công, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm soát quyền lực và cá thể hóa trách nhiệm cá nhân. Trong bối cảnh của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các nguyên tắc này không còn là định hướng mà đã trở thành yêu cầu vận hành thiết thực, đòi hỏi phải được nội hóa trong toàn hệ thống.

Việc phân cấp cần được thực hiện gắn với kiểm soát đầu ra, tạo không gian tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu, đồng thời mở rộng không gian đóng góp và phát triển của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học. Thực tế hiện nay cho thấy các quy trình tài chính, nhân sự và đấu thầu còn cứng nhắc đang hạn chế khả năng tự chủ, do đó cần phân định rõ vai trò giữa hoạch định chiến lược và triển khai nghiên cứu, đồng thời kiểm soát theo kết quả khoa học có thể đo lường được như chất lượng công bố, mức độ ứng dụng chính sách và đánh giá độc lập.

Việc đổi mới cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo hướng gắn với nhu cầu chính sách cụ thể và xác định rõ đầu ra cũng là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao tính ứng dụng của sản phẩm khoa học và tăng cường trách nhiệm giải trình. Đồng thời, cần nghiên cứu các chính sách đột phá trong thu hút và sử dụng nhân tài, tạo điều kiện để đội ngũ nhà khoa học phát huy năng lực.

Theo Giáo sư, khoa học xã hội đóng góp như thế nào vào mục tiêu tăng trưởng “hai con số”?

Mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là một mệnh đề kinh tế - chính trị tổng hợp, gắn với thể chế, nguồn lực, năng lực thích ứng của xã hội và niềm tin của người dân, doanh nghiệp. Đây là lĩnh vực mà khoa học xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng.

Các nghiên cứu đã chỉ ra những điểm nghẽn mang tính hệ thống như sự phân mảnh trong phối hợp liên ngành, khoảng cách giữa chính sách và thực thi, cũng như cơ chế phân bổ nguồn lực. Đồng thời, các rủi ro xã hội như bất bình đẳng, áp lực di dân hay những biến động trong cơ cấu lao động cũng cần được nhận diện sớm.

Việc xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất nội sinh, gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặt ra nhiều câu hỏi về thể chế, văn hóa và hành vi kinh tế. Bên cạnh đó là yêu cầu dự báo và chuẩn bị cho chuyển đổi lao động trong bối cảnh kinh tế số. Vì vậy, Khoa học xã hội không chỉ dừng ở việc diễn giải chính sách mà cần tham gia từ khâu thiết kế, triển khai đến đánh giá và điều chỉnh với các phân tích có cơ sở khoa học và độ tin cậy cao.

Theo Giáo sư, cần làm gì để tăng cường minh bạch và phòng ngừa tiêu cực trong hoạt động nghiên cứu khoa học?

Yêu cầu đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và khắc phục tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” là sự tiếp nối nhất quán các chủ trương của Đảng, đồng thời thể hiện bước phát triển trong tư duy quản trị.

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, cần bảo đảm minh bạch trong toàn bộ quy trình, từ xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, phân bổ kinh phí đến nghiệm thu, đánh giá kết quả. Việc công khai tiêu chí và kết quả sẽ góp phần hạn chế yếu tố cảm tính. Bên cạnh đó, cơ chế phòng ngừa cần được thiết kế ngay từ đầu, gắn với phân định rõ trách nhiệm cá nhân và nhận diện sớm rủi ro. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học cũng giúp tăng tính minh bạch và khả năng giám sát. Việc phân bổ nguồn lực cần gắn với hiệu quả thực chất, đi cùng với đánh giá độc lập và điều chỉnh kịp thời. Đồng thời, cần xây dựng chuẩn mực đạo đức khoa học và mở rộng không gian phản biện xã hội để nâng cao chất lượng nghiên cứu và hạn chế tiêu cực.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi.

Lý Thanh Hương/TTXVN (Thực hiện)

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ