🔍
Chuyên mục: Tài chính

Kiểm soát để dòng tín dụng chảy đúng hướng

1 ngày trước
Nghị quyết số 168/NQ-CP của Chính phủ đã cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm cho những quý còn lại của năm nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Mở rộng quy mô các chương trình tín dụng góp phần đưa tín dụng đến đúng những khu vực tạo động lực tăng trưởng

Vốn đang đi vào khu vực sản xuất, kinh doanh

Nghị quyết số 168/NQ-CP của Chính phủ đã cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm cho những quý còn lại của năm nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Một trong những yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết là nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Theo tinh thần Nghị quyết, tín dụng năm 2026 không chỉ được mở rộng về quy mô mà còn phải được phân bổ hiệu quả hơn, ưu tiên các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa đối với tăng trưởng.

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, năm 2026, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% và sẽ điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế để vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD. Để triển khai mục tiêu này, ngay từ đầu năm, NHNN đã thông báo công khai nguyên tắc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng để các TCTD chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh. NHNN tiếp tục điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế; chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Bám sát định hướng điều hành đó, các TCTD tiếp tục cơ cấu dòng vốn theo hướng tập trung cho sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tại Agribank, cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các ngành tạo động lực tăng trưởng, đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn của khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và doanh nghiệp FDI. Ngân hàng đang triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn như gói 200.000 tỷ đồng dành cho các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn; chương trình tín dụng 5.000 tỷ đồng và 100 triệu USD dành cho doanh nghiệp FDI với lãi suất ưu đãi giảm tới 1%/năm; gói tín dụng 70.000 tỷ đồng hỗ trợ vốn lưu động và chương trình 100.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết hợp tư vấn quản trị tài chính, quản lý dòng tiền và chuyển đổi số…

Ở khối các NHTMCP tích cực triển khai các chương trình tín dụng hướng vào những lĩnh vực ưu tiên. Tại HDBank, ba chương trình tín dụng ưu đãi được triển khai đồng thời dành cho doanh nghiệp logistics, nông, lâm, thủy sản và doanh nghiệp FDI. Theo Chủ tịch HĐQT Kim Byoungho, trong 6 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng của ngân hàng này tăng gần 18% so với đầu năm, chủ yếu tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, HDBank đã giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng trở lên theo chỉ đạo của NHNN, tạo thêm điều kiện để giảm chi phí vốn và hỗ trợ khách hàng tiếp cận tín dụng với mức lãi suất hợp lý hơn.

Nhờ các giải pháp điều hành tín dụng linh hoạt của NHNN và sự chủ động triển khai của các TCTD, tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng trưởng tích cực. Đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng. Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% dư nợ tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; nhiều lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng lớn như nông nghiệp, nông thôn (22,09%), doanh nghiệp nhỏ và vừa (19,84%), đồng thời ghi nhận mức tăng trưởng cao ở lĩnh vực xuất khẩu (20,53%) và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao (26,36%). Cơ cấu tín dụng tiếp tục dịch chuyển theo hướng ưu tiên cho khu vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng, phù hợp với mục tiêu điều hành của Chính phủ và NHNN.

Điểm sáng trong điều hành tín dụng thời gian qua là nhiều chương trình tín dụng theo lĩnh vực tiếp tục được mở rộng cả về quy mô và phạm vi triển khai, góp phần đưa dòng vốn đến đúng khu vực ưu tiên và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng (NHNN), chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã nhiều lần được mở rộng quy mô, từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng. Đến cuối tháng 5/2026, doanh số giải ngân lũy kế đạt khoảng 219.000 tỷ đồng, tương đương 118,4% quy mô chương trình, với hơn 79.900 lượt khách hàng được vay vốn. Đối với chương trình phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, sau 12 tháng triển khai, doanh số giải ngân lũy kế đạt khoảng 4.200 tỷ đồng đối với các khách hàng đủ điều kiện theo danh sách của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ở lĩnh vực hạ tầng, chương trình tín dụng đầu tư các dự án điện, giao thông và công nghệ chiến lược ghi nhận dư nợ khoảng 10.527 tỷ đồng tính đến ngày 31/5/2026. NHNN đang tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành rà soát, bổ sung danh mục dự án để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, bảo đảm nguồn vốn được đưa vào các công trình trọng điểm…

Việc đồng thời mở rộng quy mô các chương trình tín dụng theo từng lĩnh vực và duy trì định hướng ưu tiên dòng vốn cho sản xuất, kinh doanh đang góp phần đưa tín dụng đến đúng những khu vực tạo động lực tăng trưởng, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn thuận lợi hơn, qua đó tạo nền tảng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2026.

Mở thêm dư địa cho tăng trưởng

Trong năm 2026, NHNN tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất điều hành ổn định, đồng thời giảm lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn để tạo điều kiện kéo giảm lãi suất cho vay. Song song với đó là hàng loạt giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng vốn như: phát triển cho vay điện tử, thúc đẩy chuyển đổi số, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng và điều chỉnh một số quy định về giới hạn an toàn theo hướng linh hoạt hơn. Đáng chú ý, việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% và điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi (LDR) đã tạo thêm dư địa để các TCTD mở rộng cho vay phục vụ đầu tư và sản xuất kinh doanh. Đồng thời, quy định LDR cũng được điều chỉnh theo hướng cho phép tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng nguồn vốn huy động, góp phần nâng cao khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Không chỉ hoàn thiện các cơ chế điều hành, NHNN thời gian gần đây tiếp tục có những điều chỉnh linh hoạt trong quản lý tăng trưởng tín dụng nhằm tạo thêm dư địa cho các lĩnh vực và dự án có vai trò thúc đẩy tăng trưởng. Mới đây, NHNN quyết định loại trừ phần dư nợ phát sinh mới của các khoản cấp tín dụng đối với 18 dự án trọng điểm do Vingroup, Masterise và Sun Group triển khai khi tính tăng trưởng tín dụng hằng năm. Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), việc loại trừ dư nợ không chỉ áp dụng đối với các dự án của ba tập đoàn này mà còn hướng tới các lĩnh vực có ý nghĩa phát triển dài hạn như khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà ở xã hội và nhà ở cho người dân - những dự án trọng điểm quốc gia có sức lan tỏa lớn đối với tăng trưởng. Cùng với đó, tại Công văn số 4551/NHNN-CSTT, NHNN cho phép loại trừ phần dư nợ tăng thêm của các khoản vay phục vụ nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản năm 2026 đối với 25 TCTD. Đây là bước điều chỉnh theo hướng ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực phục vụ sản xuất, phát triển công nghiệp và nhu cầu ở thực, đồng thời tạo thêm dư địa để các TCTD mở rộng tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Những điều chỉnh này sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn về nguồn vốn cho các dự án động lực. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng cho rằng dư địa của tín dụng ngân hàng không còn nhiều khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cao. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục phát triển đồng bộ thị trường tài chính, trong đó thị trường vốn cần phát huy tốt hơn vai trò huy động nguồn lực trung và dài hạn, qua đó chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) cho biết, nhu cầu huy động vốn giai đoạn 2026-2030 là rất lớn, trong khi dư địa tín dụng không còn nhiều. Vì vậy, phần nhu cầu vốn còn lại sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Theo ông Sơn, cần có những sản phẩm mới đang được quy định tại các dự thảo nghị định, như dự thảo Nghị định phát hành trái phiếu cho đối tác theo phương thức đối tác công tư (PPP) và dự thảo Nghị định về trái phiếu xanh, nhằm hỗ trợ môi trường tăng trưởng xanh ESG. Đây là các công cụ giúp huy động nguồn lực cả trong nước lẫn quốc tế, đi cùng lộ trình xây dựng sàn giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và sau này là giao dịch tín chỉ các-bon.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital:

Phát triển thị trường vốn để lấp khoảng trống vốn dài hạn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với nhu cầu vốn lớn chưa từng có. Tính toán của Dragon Capital cho thấy, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trên 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, tương đương khoảng 1.460 tỷ USD, gần gấp đôi quy mô đầu tư của giai đoạn trước. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân dự kiến đóng góp khoảng 53%, ngân sách nhà nước khoảng 32% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 15%.

Trong bối cảnh đó, việc nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ ngày càng gặp nhiều giới hạn. Hiện dư nợ tín dụng của Việt Nam đã ở mức khoảng 145% GDP, thuộc nhóm cao trong khu vực, khiến dư địa mở rộng tín dụng không còn nhiều. Trong khi đó, các dòng vốn từ FDI hay đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) cũng khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế.

“Khoảng trống” vốn ước tính từ 120-150 tỷ USD mỗi năm cần được bù đắp thông qua các kênh dẫn vốn dài hạn như thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ và các quỹ đầu tư dài hạn. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng một cấu trúc tài chính cân bằng và bền vững hơn.

Để thị trường vốn thực sự trở thành kênh huy động vốn dài hạn hiệu quả, cần tháo gỡ đồng thời nhiều điểm nghẽn. Trước hết là đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường khi hiện các doanh nghiệp nhóm tài chính - ngân hàng và bất động sản đang chiếm tới 68% vốn hóa, trong khi số lượng doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ và công nghệ quy mô lớn còn hạn chế. Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh lực lượng nhà đầu tư tổ chức như quỹ hưu trí, quỹ mở và doanh nghiệp bảo hiểm nhằm tạo nguồn vốn dài hạn ổn định, giảm sự phụ thuộc vào nhà đầu tư cá nhân và hạn chế biến động của thị trường. Song song với đó là tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thu hút doanh nghiệp chất lượng niêm yết, hoàn thiện hạ tầng thị trường, nâng cao quản trị doanh nghiệp và tăng cường tính minh bạch để thị trường vốn thực sự trở thành trụ cột quan trọng của nền kinh tế.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng:

Tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng

Trong những năm qua, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng. Tuy nhiên, việc mở rộng khả năng cung ứng vốn không đồng nghĩa với nới lỏng điều kiện tín dụng. Các TCTD vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình thẩm định, đánh giá rủi ro và kiểm soát chất lượng tín dụng nhằm bảo đảm an toàn hệ thống. Dòng vốn tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững, chính sách tiền tệ dù linh hoạt đến đâu cũng không thể là giải pháp duy nhất. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường xuất khẩu. Chỉ khi các kênh dẫn vốn được phát triển đồng bộ, nền kinh tế mới có thể giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và tạo nền tảng tài chính bền vững cho mục tiêu tăng trưởng dài hạn.

Quỳnh Trang

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ