🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Khúc tráng ca Điện Biên Phủ

1 giờ trước
Lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam phải đối đầu với những kẻ xâm lược mạnh nhất thời đại. Sau Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, thì 'Điện Biên Phủ, cây cột mốc bằng vàng' đã trở thành khúc tráng ca bất tử trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Đồi A1, một trong những cứ điểm quan trọng tại Điện Biên Phủ.

1. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 trên quảng trường Ba Đình lộng gió, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập - tự do cho dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, sau hơn 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp không dễ dàng từ bỏ “miếng bánh” thuộc địa béo bở, chúng quyết tâm cướp nước ta thêm một lần nữa. Hơn một năm sau ngày độc lập, ngày 19/12/1946 Bác Hồ đã viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ đây, dân tộc Việt Nam chính thức bước vào cuộc kháng chiến vệ quốc trường kỳ.

Cuối năm 1953, với tình hình giằng co trên chiến trường, thực dân Pháp âm mưu giành một thắng lợi quân sự mang tính quyết định. Đầu tháng 10/1953, Bộ Chính trị họp bàn về kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Tại cuộc họp, Bác Hồ đã khẳng định: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn... Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa”. Đề án Đông Xuân được Bộ Chính trị thông qua, xác định Tây Bắc là hướng chính.

Nhưng tại sao lại là Điện Biên Phủ mà không phải một địa điểm nào khác? Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp “lý giải” trong cuốn sách “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử”.

Nằm ở Tây Bắc nước ta, Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược quan trọng với toàn bộ chiến trường Đông Dương. Vùng đất này tiếp giáp với Thượng Lào có những trục đường chạy về phía nam xuống Trung, Hạ Lào, sang phía tây tới Thái Lan, Miến Điện (Myanmar ngày nay), lên tây bắc tới Trung Quốc. Đây là vùng đông dân, trù phú, có cánh đồng rộng nhất ở Tây Bắc. Từ năm 1939, Điện Biên Phủ đã có một sân bay dã chiến. Sau Cách mạng Tháng Tám, Điện Biên Phủ tiếp tục nằm dưới quyền kiểm soát của thực dân Pháp. Với lợi thế về binh lực và vũ khí tối tân, cùng máy bay, kẻ địch tin rằng “lòng chảo” Điện Biên Phủ sẽ trở thành vị trí dễ phòng ngự, nơi có một trong những sân bay tốt nhất Đông Nam Á, nơi sẽ trở thành “chiếc nhọt tụ độc” đối với bộ đội ta. Việc đánh chiếm Điện Biên Phủ sẽ ngăn chặn được cuộc tiến quân của quân ta ở Tây Bắc, xa hơn nữa là Thượng Lào... Và với những lợi thế, tính toán ấy, kẻ địch tưởng như đã chắc chắn nắm được thắng lợi ở Điện Biên Phủ.

Trước âm mưu của thực dân Pháp, cuối tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954. Điện Biên Phủ là chiến địa do kẻ địch lựa chọn, ta theo đó mà ứng chiến với quyết tâm không được phép thua. “Phần lớn tinh hoa của bộ đội chủ lực trong tám năm kháng chiến đều tập trung ở đây. Những vốn liếng vô cùng quý giá nhưng cũng thực ít ỏi... Nhiệm vụ của chiến dịch không chỉ là giành chiến thắng, mà còn phải giữ được những vốn quý cho cuộc chiến đấu lâu dài”.

2. Sau khi xác định nhiệm vụ, quân và dân cả nước cùng nhau hướng về Điện Biên Phủ với tất cả quyết tâm. Dẫu có vượt núi, trèo đèo, lội suối cũng không thể làm chậm được bước chân người Việt ngược lên chiến địa Điện Biên Phủ. Những đoàn dân công từ Việt Bắc, Tây Bắc rồi đến khu 3, khu 4, rồi bộ binh, pháo binh, công binh, vận tải, văn công, chiến sĩ nối tiếp nhau trên tuyến đường độc đạo từ Cò Nòi tới Điện Biên Phủ. Trong những đoàn người tiến về mặt trận Điện Biên Phủ những tháng ngày ấy, có hàng vạn chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến người Thanh Hóa. Đất và người xứ Thanh đã dành trọn tinh thần, vật lực cho tiền tuyến Điện Biên Phủ, thực hiện trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc.

Đó là “Khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện không ngần ngại, ôm chèn lao vào bánh xe mong chặn khẩu pháo cao xạ nặng hai tấn rưỡi... Các anh cùng đồng đội cứu được khẩu pháo khỏi lao xuống vực, nhưng đã trở thành liệt sĩ”; nơi hậu phương cụ Trịnh Đình Bầm, một dân công hỏa tuyến đã tháo cả ban thờ gia tiên làm bánh xe cút kít để tải lương... Những con người được biết tên và chưa được nhắc tên đã góp sức làm nên lịch sử.

Cái không khí náo nức và thiêng liêng ấy được tạo nên từ lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do. Như chính những lời ca đầy khí thế trong bài hát Hò kéo pháo của nhạc sĩ Hoàng Vân: “Hò dô ta... nào! Kéo pháo ta vượt qua đèo/ Hò dô ta... nào! Kéo pháo ta vượt qua núi/ Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi/ Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù”.

Khí thế ấy, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ mãi: “Tôi đã đi chiến dịch nhiều, nhưng chưa bao giờ chứng kiến một không khí phấn khởi, hào hùng như lần này. Nhưng đây là điều có thể hiểu được”. Và không khí chuẩn bị cho chiến dịch xuyên Tết Giáp Ngọ ví như cuộc hành quân của vua Quang Trung trong thời đại mới. “Những ngày này, cả dân tộc đang thực hiện một cái Tết Quang Trung của thời đại mới. Không chỉ có một đoàn quân rong ruổi từ Thuận Hóa ra Thăng Long trong Tết Kỷ Dậu năm 1789, mà trên rất nhiều nẻo đường khắp bán đảo Đông Dương, từ Nam ra Bắc, từ Đông sang Tây, những đoàn quân của cả nước đang mải miết ra đi quyết đem về một mùa xuân mới cho dân tộc” (Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử).

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đất và người Thanh Hóa đã dốc sức người, sức của cho tiền tuyến (chiếc xe đạp thồ phục vụ tải lương trong chiến dịch Điện Biên Phủ được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa).

Tuy nhiên, đối đầu với kẻ địch hùng mạnh được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại, so sánh tương quan lực lượng, thẳng thắn nhìn nhận thì chúng ta vẫn ở thế “yếu đánh mạnh”. Vì thế, thay vì đánh nhanh thắng nhanh không phù hợp, chúng ta quyết “đánh chắc tiến chắc”, xây dựng trận địa bao vây, chia cắt địch, khoét sâu vào nhược điểm của thế trận mà chúng bày ra và biến Điện Biên Phủ trở thành “tử huyệt” của kẻ xâm lược. Nơi những viên tướng đánh trận dầy dạn kinh nghiệm của thực dân Pháp như “Nava, Cônhi, Đờ Cát...” buộc phải cúi đầu đau đớn chấp nhận thất bại.

3. Sau 55 ngày đêm giao chiến ác liệt, ngày 7/5/1954 chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã toàn thắng. Điện Biên Phủ, nơi kẻ địch khi bước vào cuộc chiến tưởng chừng có thể nắm chắc một thắng lợi thì lại trở thành mồ chôn kẻ xâm lược.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ta buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của không chỉ Việt Nam mà cả ba nước Đông Dương.

72 năm đã trôi qua nhưng “khúc tráng ca” Điện Biên Phủ còn mãi vang vọng, khắc sâu lịch sử dân tộc và tâm khảm mỗi người dân Việt Nam về đỉnh cao của cuộc chiến vệ quốc. Từ Điện Biên Phủ, dân tộc ta còn phải trải qua muôn vàn gian lao mới đi đến ngày toàn thắng, độc lập, tự do, thống nhất. Tất cả đều được đánh đổi bằng máu, nước mắt, hy sinh của ông cha. Chiến thắng và những mất mát, hy sinh ấy nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam trân trọng sự vô giá của hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất ngày hôm nay.

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể, Hữu Mai ghi, NXB Kim Đồng, 2003).

Bài và ảnh: Trang Bùi

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ