🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Khách VIP gửi 8,6 tỷ đồng vào ngân hàng, bất ngờ thành người mua trái phiếu

1 giờ trước
Cho rằng 8,6 tỷ đồng tiền gửi được nhân viên ngân hàng tư vấn chuyển sang mua trái phiếu, khách hàng yêu cầu ngân hàng hoàn trả. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện ông đã ký nhiều hợp đồng đặt mua trái phiếu với doanh nghiệp phát hành.
00:00
00:00

Khách VIP nói được tư vấn gửi tiền, ngân hàng khẳng định mua trái phiếu

Ông Trần Công L. là khách hàng VIP của Ngân hàng TMCP Q. - Chi nhánh Đ. từ năm 2016 và thường xuyên giao dịch tiền gửi tại đây.

Ngày 2/3/2022, ông L. đến Ngân hàng Q. để mở tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng với số tiền 300.000 USD.

Theo trình bày của đại diện ông L., lãnh đạo và nhân viên ngân hàng tư vấn rằng khoản tiền gửi USD vẫn được hưởng lãi nhưng phải chuyển đổi sang trái phiếu, với lãi suất 4,2%/năm và số tiền USD vẫn thuộc quyền sở hữu của ông L.

Sau đó, bà T. - nhân viên ngân hàng Q., tự thực hiện việc chuyển đổi 300.000 USD của ông L. sang tiền Việt và mua trái phiếu trị giá 7 tỷ đồng. Ông L. cho rằng mình không hiểu biết về trái phiếu, việc mua bán và tổ chức bán trái phiếu đều do bà T. với tư cách nhân viên ngân hàng thực hiện.

Cùng ngày 2/3/2022, Ngân hàng Q. ban hành thông báo về lãi suất chênh lệch, trong đó cam kết đến ngày 2/3/2023 hoàn trả cho ông L. số tiền gốc 300.000 USD cùng tiền lãi theo mức 4,2%/năm.

Theo trình bày của ông L., trong thời gian đầu, nhân viên ngân hàng vẫn thực hiện việc chi trả tiền lãi vào tài khoản cá nhân của ông. Tuy nhiên, từ tháng 7/2023, ông không còn nhận được tiền lãi và đến thời điểm đáo hạn theo các giấy tờ liên quan, ông vẫn chưa được hoàn trả số tiền gốc.

Cho rằng 8,6 tỷ tiền gửi được chuyển sang mua trái phiếu theo tư vấn của nhân viên ngân hàng, khách hàng yêu cầu hoàn trả. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Ngoài khoản 300.000 USD, ông L. cho hay từ ngày 28/12/2021, ông đã gửi tổng cộng 8,6 tỷ đồng tại Ngân hàng Q. Sau đó, số tiền này được nhân viên ngân hàng tư vấn chuyển sang mua trái phiếu của Công ty CP T1.

Hồ sơ vụ án thể hiện ông L. đã ký nhiều hợp đồng đặt mua trái phiếu với Công ty CP T1, tổng số tiền 8,6 tỷ đồng. Đại diện nguyên đơn cũng thừa nhận các hợp đồng này có thật và do ông L. ký.

Theo trình bày tại tòa, trong thời gian đầu sau khi mua trái phiếu, ông L. vẫn nhận được các khoản tiền lãi do nhân viên ngân hàng chi trả vào tài khoản cá nhân. Tuy nhiên, từ tháng 7/2023, việc chi trả dừng lại và đến ngày 28/12/2023, ông chưa được nhận lại tiền gốc.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của ông L. yêu cầu ngân hàng trả 90.000 USD còn lại trong khoản 300.000 USD và hoàn trả 8,6 tỷ đồng mà ông cho rằng đã gửi tiết kiệm, cùng tiền lãi. Tổng tiền lãi được tạm tính hơn 1,5 tỷ đồng.

Phía ngân hàng không đồng ý với các yêu cầu trên. Theo dữ liệu trên hệ thống, ông L. không có khoản tiền gửi 300.000 USD hay 8,6 tỷ đồng tại chi nhánh.

Ngân hàng cho rằng ông L. đã tự nguyện mua các gói trái phiếu, trực tiếp ký hợp đồng và ký ủy nhiệm chi chuyển tiền.

Đồng thời, ngân hàng cũng cho rằng thông báo ngày 2/3/2022 về việc chênh lệch lãi suất được lập không đúng quy định nội bộ. Những người ký văn bản không có thẩm quyền đại diện hoặc được ủy quyền sử dụng con dấu ngân hàng nên văn bản không có giá trị pháp lý.

Đối với khoản 300.000 USD, ngân hàng cho rằng với tư cách cá nhân, bà T. đã chi trả cho ông L. 210.000 USD tiền gốc cùng tiền lãi theo thỏa thuận trong thông báo ngày 2/3/2022. Do đó, ngân hàng cho rằng yêu cầu đòi 300.000 USD của ông L. là không có cơ sở.

Hồ sơ mua trái phiếu khiến yêu cầu đòi 8,6 tỷ đồng bị bác

Tại bản án dân sự sơ thẩm, TAND TP Biên Hòa (nay là TAND khu vực 1 - Đồng Nai) đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của ông L. về việc buộc Ngân hàng Q. thanh toán 210.000 USD.

Tòa sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu của ông L. đối với việc buộc ngân hàng trả 90.000 USD mà ông cho rằng đã gửi ngày 2/3/2022, đồng thời bác yêu cầu ngân hàng hoàn trả 8,6 tỷ đồng tiền gốc và hơn 1,5 tỷ đồng tiền lãi.

Ngược lại, tòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà T., buộc ông L. trả cho bà 210.000 USD, quy đổi sang tiền Việt Nam theo tỷ giá do Ngân hàng N. công bố tại thời điểm thi hành án.

Không đồng ý với bản án, ngày 28/6/2026, ông L. kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng các tài liệu, chứng cứ ông L. cung cấp là những hợp đồng đặt mua trái phiếu, tổng số tiền 8,6 tỷ đồng. Đại diện nguyên đơn cũng thừa nhận các hợp đồng này có thật, được ký giữa ông L. và Công ty CP T1 và do ông L. trực tiếp ký.

Trong khi đó, ông L. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về giao dịch gửi tiết kiệm, giấy tờ mở sổ tiết kiệm, hợp đồng gửi tiền hoặc tài liệu chứng minh Ngân hàng Q. đã tiếp nhận và quản lý số tiền 300.000 USD và 8,6 tỷ đồng với tư cách tiền gửi.

HĐXX phúc thẩm nhận định ông L. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu của mình, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Đối với khoản 8,6 tỷ đồng, tòa xác định các hợp đồng đặt mua trái phiếu và giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu của Công ty CP T1 là có thật. Ông L. cũng thừa nhận tất cả giấy tờ đều do mình ký nhận.

Ngân hàng Q. xác định vai trò của mình là đại lý quản lý tài sản bảo đảm của tổ chức phát hành, không có chức năng mua lại trái phiếu, không có nghĩa vụ mua lại hoặc thanh toán gốc, lãi trái phiếu cho các trái chủ.

Đối với khoản 210.000 USD, bà T. trình bày từ ngày 14/4/2023, bà và ông L. có thỏa thuận riêng về việc bà mua lại số trái phiếu của ông L. tại Công ty CP T1. Đến ngày 28/8/2023, bà đã đưa cho ông L. tổng cộng 210.000 USD và tiền lãi.

Ông L. thừa nhận có nhận 210.000 USD từ bà T. nhưng cho rằng đây là tiền ngân hàng trả cho mình từ khoản tiền gửi.

Tòa không chấp nhận yêu cầu của ông L. đòi Ngân hàng Q. trả 90.000 USD, 8,6 tỷ đồng tiền gốc và hơn 1,5 tỷ đồng tiền lãi.

Đối với tranh chấp liên quan đến các hợp đồng mua bán trái phiếu của Công ty CP T1, tòa xác định các đương sự có quyền khởi kiện nếu có yêu cầu.

(Bài viết dựa trên Bản án số 480/2026/DS-PT ngày 7/7/2026 của TAND TP Đồng Nai)

Nguyễn Lê















Home Icon VỀ TRANG CHỦ