🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

'Hoàng hôn phương Tây' của Oswald Spengler: Sau hoàng hôn có đến bình minh?

2 giờ trước
Xuất bản lần đầu năm 1918, 'Hoàng hôn phương Tây' của Oswald Spengler nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm gây tranh luận nhất của triết học thế kỷ XX. Bằng cách nhìn văn hóa như những sinh thể có chu kỳ sinh - diệt, Spengler đặt ra vấn đề táo bạo: nền văn hóa phương Tây có thể đang bước vào buổi hoàng hôn của mình.

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng

Nguyễn Du – Kiều

Nếu tự nhiên là môi trường sống thứ nhất của con người, thì văn hóa là môi trường sống thứ hai. Một thứ môi sinh do chính con người tạo lập ra. Hẳn thế, suốt hành trình sống của chủng loại, con người luôn suy tư về văn hóa, như là thế giới ý niệm của mình. Từ đó, nhiều lý thuyết văn hóa ra đời.

Có thể tạm chia các lý thuyết về văn hóa từ cổ kim ra thành hai loại: (1) các nhà triết học, sử học, phân tâm học… đẩy lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của mình lên cao một bước thì là văn hóa, như Hegel, Toynbee, Freud, Jung, Berdyaev và (2) các nhà chuyên nghiên cứu văn hóa cũng đẩy lĩnh vực nghiên cứu của mình lên cao một bước thì thành nhà triết học: triết học văn hóa, như Tylor, Sorokin, Cassirer. Và, nhất là Spengler.

Một triết gia văn hóa nhiều tranh cãi

Triết gia văn hóa Đức Oswald Spengler (1880 - 1936).

Oswald Spengler (1880 - 1936) là nhà triết học văn hóa người Đức. Cha ông là một thư ký bưu điện, chăm chỉ nhưng ghét tri thức và cố truyền tính khí đó cho con. Oswald chịu ảnh hưởng từ mẹ, một người phụ nữ Bohemian buồn rầu, cáu kỉnh. Thời đi học ông giỏi tiếng Hy Lạp, Latinh, toán và các bộ môn khoa học tự nhiên khác, đồng thời say mê thơ, kịch, âm nhạc, sùng bái Goethe và Nietzsche.

Năm 1901, sau khi cha mất, ông theo học một vài trường đại học với tư cách là học giả cá nhân. Năm 1903, ông trượt luận án tiến sĩ về Heraclitus do Alois Riehl, một triết gia Kant mới hướng dẫn. Nhưng, cuối năm 1904, ông cũng nhận được bằng tiến sĩ nhờ luận án thứ hai để đủ điều kiện dạy trung học.

Năm 1904, Spengler trải qua một cơn suy nhược thần kinh. Từ 1908 đến 1911, ông dạy các môn khoa học, lịch sử Đức tại trường trung học Hamburg. Sau khi mẹ mất, ông chuyển về Munich và sống ở đây đây đến cuối đời, như một học giả khép kín, bằng khoản thừa kế khiêm tốn của mình.

Spengler bắt đầu viết cuốn Hoàng hôn phương Tây (tựa gốc là The Decline of the West) từ năm 1911, Ban đầu vốn chỉ định tập trung vào lịch sử nước Đức, nhưng khi Thế chiến Một nổ ra, ông mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình sang lĩnh vực văn hóa. Cuốn sách được hoàn thành năm 1914, nhưng do chiến tranh nên chỉ được xuất bản vào 1918. Hoàng hôn phương Tây ra đời đã gây ra một chia rẽ sâu sắc trong hàng ngũ các học giả lớn. Bởi nó không đơn thuần là một công trình khoa học, nó còn là cuốn sách dự báo, thậm chí tiên tri.

Sử gia E. Meyer đánh giá cao Spengler. Tiểu thuyết gia Thomass Mann lại so sánh việc đọc Spengler như lần đầu ông đọc Schopenhauer. Max Weber coi Spengler là một “tay chơi tài tử, người ham mê nghệ thuật tài hoa và bài bản,” còn Karl Popper nhận định cuốn sách này là “vô nghĩa.” Hoàng hôn phương Tây cũng trở thành mục tiêu công kích của những nhà thực chứng luận và phái Kant mới. Nhưng Ludwig Wittgenstein thì đồng cảm và chia sẻ chủ nghĩa bi quan văn hóa của Spengler.

Còn với người dân Đức thì cuốn sách đã an ủi họ rằng thất bại của họ sau Hiệp ước Versailles (1919) và suy thoái kinh tế năm 1923 thuộc về một quá trình lịch sử thế giới có quy mô rộng lớn hơn chứ không phải của riêng nước họ. Sự mâu thuẫn trong dư luận này chứng tỏ tác phẩm chứa đựng nhiều vấn đề lớn, bởi các vấn đề lớn thì bao giờ cũng có những mâu thuẫn nội tại của nó. Vậy, Hoàng hôn phương Tây chứa đựng những vấn đề lớn nào về văn hóa?

Văn hóa như một sinh thể có linh hồn

Trước hết là cách hiểu, hay chặt chẽ hơn là định nghĩa, về văn hóa và số phận lịch sử của văn hóa. Triết học cổ đại Hy Lạp đến Socrates bắt đầu mở sang duy lý và trở thành dòng chính của triết học phương Tây với đỉnh cao Hegel. Tồn tại một dòng phụ mảnh mai, lúc chìm lúc tiếp tục các triết gia tiền-Socrates với những tên tuổi hiếm hoi như Schopenhauer, Nietzsche. Sự khác nhau như nước và lửa của hai dòng này về sau được Nietzsche gọi một đằng là tinh thần Apollon còn đằng kia là tinh thần Dionysus. Triết học văn hóa của Spengler thuộc về cái thứ hai.

Đối lập với Hegel, người quy toàn bộ quá trình lịch sử văn hóa về một logic cốt lõi xuyên suốt sự phát triển của lịch sử nhân loại và kết thúc ở một điểm tất định tối cao nào đó, Spengler cho rằng không có một văn hóa thế giới duy nhất, mà có nhiều văn hóa khác nhau và mỗi nền này đều có một số phận riêng của mình. Như vậy, thay thế cho một bức tranh buồn tẻ của lịch sử văn hóa thế giới đơn tuyến là một sân khấu của vô vàn các văn hóa hùng mạnh, phát triển huy hoàng với những hình thức riêng biệt từ sức mạnh nguyên sơ trên quê hương của nó, để cuối cùng đi đến sự diệt vọng riêng thuộc.

Nếu Hegel coi logic là yếu tố khởi nguyên của văn hóa thì với Spengler là linh hồn, một yếu tố nằm ngoài sự hợp lý, không thể quy về bất kỳ một logic nào. Như vậy, Spengler coi văn hóa như một sinh thể, có sự ra đời, phát triển và diệt vọng, và quá trình này phụ thuộc vào linh hồn văn hóa.

Hai cuốn Hoàng hôn phương Tây của Oswald Spengler.

Với khái niệm linh hồn văn hóa, Spengler đã thể hiện được những sự thật mà các nhà nghiên cứu phương Tây duy lý bỏ qua. Và, từ những “chuẩn văn hóa” của mình, họ coi các văn hóa ngoài phương Tây là thấp kém, là ngoại vi. Còn Spengler, ông coi tất cả các nền văn hóa đều bình đẳng, bởi mỗi nó đều có một linh hồn riêng, độc nhất vô nhị và không thể phán xét từ lập trường của một văn hóa khác. Như vậy, các văn hóa khu biệt nhau bởi linh hồn của chúng.

Chúng, do vậy, có tiếng nói khác nhau, có chân lý khác nhau, có hệ giá trị khác nhau… Spengler đi đến kết luận: “Với các nhà tư tưởng thì hoặc là tất cả các văn hóa đều có sức mạnh, hoặc là không một văn hóa nào có sức mạnh” (trích trong Hoàng hôn phương Tây). Nhận xét trên của ông, có lẽ, là một trong những cơ sở cho tương đối luận văn hóa. Nhưng, để tránh ảo tưởng cho các văn hóa ở “vùng lõm,” theo tôi, các văn hóa chỉ bình đẳng ở cấp bản thể, tức khác nhau, còn ở cấp trình độ thì quả là có hơn kém nhau.

Các kiểu “linh hồn văn hóa” trong lịch sử

Spengler phân biệt một vài kiểu linh hồn văn hóa tiêu biểu của các văn hóa vừa song hành vừa gối tiếp nhau trên hành trình lịch sử văn hóa thế giới. Đó là kiểu Apollon của văn hóa Hy Lạp cổ đại mang tính chất hài hòa, hợp lý; kiểu văn hóa thần bí ít nhiều có tính chất Dionysus của Ả Rập thời trung đại và, cuối cùng, là kiểu Faust mang tính duy lý của văn hóa châu Âu thời hiện đại. Hoàng hôn phương Tây tập trung vào linh hồn Faust của văn hóa châu Âu. Một linh hồn nổi loạn, khao khát chế ngự thế giới bằng ý chí của mình.

Nếu ở linh hồn của văn hóa Hy Lạp cổ đại và văn hóa Ả Rập trung đại, Spengler nhận thấy sự thiếu vắng của ý chí, thì ở văn hóa châu Âu hiện đại, trong linh hồn Faust, là tinh thần chế ngự tính hữu hình và tình cảm cô độc với nỗi buồn vô tận. “Dưới con mắt của kiểu người Faust, cả thế giới hiện ra như một vận động chung đến một mục đích nào đó (…). Đối với con người Faust sống là đấu tranh, là khắc phục, là vươn tới mục đích” (Hoàng hôn phương Tây).

Như vậy, nếu nền tảng của các văn hóa là linh hồn, thì thân xác của chúng, sự thể hiện đời sống của chúng, là các biểu tượng. Biểu tượng, bởi vậy, chiếm một vị trí trung tâm trong văn hóa. Biểu tượng là một ký hiệu nhưng không chỉ là một ký hiệu. Nếu ký hiệu là một chỉ lối đi vào thế giới của các vật thể, thì biểu tượng là một cánh cửa dẫn vào thế giới phi vật thể, thế giới của các ý niệm. Cảm nhận qua các biểu tượng, con người thấy được “nơi chốn thiêng liêng” của văn hóa là Ý niệm. Ý niệm sống trong chốn thẳm sâu vô thức của tâm hồn và gắn bó con người với con người theo cùng một lối cảm nhận về thế giới.

Một biểu tượng đích thực lại không đơn giản chỉ biểu đạt ý niệm, mà, quan trọng hơn, còn mang trong nó sức mạnh hữu hiệu của nó. Chẳng hạn, bức tượng Đức Phật không chỉ thể hiện hình ảnh Đức Phật, mà còn thể hiện sự hiện diện Đức Phật. Sự hiện diện thiêng liêng này mang lại cảm xúc, mang lại niềm tin cho chính con người. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các biểu tượng.

Nhưng bản thân các biểu tượng, xét cho cùng, cũng chỉ là bề ngoài của văn hóa. Các biểu tượng không tự thân trở thành biểu tượng văn hóa, mà phải trải qua tính tích cực sáng tạo của con người. Nếu, có một lý do nào đó, con người quay lưng lại với biểu tượng, thì thế giới biểu tượng sẽ chỉ còn là lớp vỏ vật thể, vô hồn. Văn hóa sẽ suy tàn. Đó là khi văn hóa chuyển sang giai đoạn văn minh.

Khi văn hóa chuyển thành văn minh

Khái niệm văn minh cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Có khi văn minh được dồng nhất với văn hóa, như văn hóa/văn minh đồ đá, đồ đồng; văn hóa/văn minh Bắc Sơn, Đông Sơn… Nhưng văn minh tách khỏi văn hóa khi lần đầu tiên được Tylor trình bày một cách tường minh trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy[1].

Theo học giả này, văn hóa của một cộng đồng tộc người khi nào đạt đến các tiêu chí sau thì được gọi là văn minh: 1) chữ viết; 2) nhà nước; 3) thành phố; 4) công nghệ… Như vậy, quan niệm văn minh của Tylor mang tính hợp lý, gần gũi với Spengler và khác, thậm chí đối lập, với quan niệm văn hóa của ông. Tuy nhiên, sự phát triển thái quá của văn minh, nhất là thái độ sùng bái nó, nhất là ở văn hóa châu Âu thế kỷ XVIII – XIX, đã chống lại văn hóa, thứ đã sinh ra nó. Bài học của Thế chiến I (và sau đó ít lâu là Thế chiến II) còn chưa đủ cảnh tỉnh nhân loại.

Quả thật, văn hóa châu Âu thời hiện đại với tinh thần Faust đã phát triển đến thiên đỉnh. Và trở thành chủ nghĩa hiện đại từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX. Với rất nhiều chữ duy, như chủ nghĩa duy lý, duy khoa học, duy logic, duy công nghệ, duy tiện ích cuộc sống, duy cá nhân chủ nghĩa… Nói theo ngôn ngữ của Spengler thì văn hóa châu Âu đã đi vào giai đoạn cuối, giai đoạn ngự trị của văn minh. Con người lạnh nhạt, thậm chí quay mặt, với các giá trị nhân văn. Các biểu tượng văn hóa dần dần mất đi sức hấp dẫn, sức sống.

Linh hồn văn hóa do vậy cũng héo mòn, tàn lụi. Bởi, linh hồn văn hóa không tự thân sống được, mà chỉ sống trong tâm hồn của những con người sống bằng ý nghĩa và giá trị của nền văn hóa đó. Spengler dự báo: “Bất kỳ nền nghệ thuật nào rồi cũng sẽ chết, không chỉ các tác phẩm riêng biệt mà cả toàn bộ nền nghệ thuật rồi cũng sẽ chết. Sẽ đến ngày bức tranh chân dung cuối cùng của Rembrandt và giai điệu cuối cùng của Mozart sẽ không tồn tại nữa, mặc dù tấm toan vẽ và tờ giấy ghi nhạc có thể sẽ còn lại. Đó là vì con mắt cuối cùng và đôi tai cuối cùng có thể hiểu được hình thức ngôn ngữ của họ đã biến mất. Bất kỳ ý nghĩa nào, bất kỳ niềm tin nào, bất kỳ khoa học nào cũng đều là tạm thời, cũng sẽ biến mất khi không còn những trí óc biết cảm nhận thế giới những ‘chân lý vĩnh cửu’ của mình như những thế giới thật sự” (Hoàng hôn phương Tây).

Từ bi kịch văn hóa đến câu hỏi hậu hiện đại

Spengler không phải là một nhà văn hóa cổ hủ, “đạo đức hương nguyện,” nhưng cũng không phải là một tín đồ sùng bái văn minh. Đây là mâu thuẫn hai mặt của một thế giới quan có tính bi thảm của những người chưa phải là con người mới của văn minh, mà vẫn là con người của văn hóa châu Âu cũ. Trong cái thế giới văn minh xa lạ với văn hóa đó, Spengler là một trong những người đầu tiên cảm nhận được bi kịch này. Và, quan trọng hơn, cũng là người đầu tiên diễn tả được một cách mạnh mẽ sống động tấn bi kịch ấy dưới hình thức tư tưởng lý thuyết.

Hoàng hôn phương Tây, bởi vậy, nhanh chóng trở thành một sự kiện của văn hóa châu Âu, của triết học văn hóa. Những vấn đề văn hóa, đặc biệt là số phận bi thảm của nó, mà Spengler đặt ra trong tác phẩm bất hủ Hoàng hôn phương Tây của mình được các nhà triết học, triết học văn hóa sau ông tiếp tục giải quyết.

Hiện nay văn hóa châu Âu và nhiều khu vực trên thế giới đã chuyển sang chủ nghĩa hậu hiện đại. Hậu hiện đại không phủ nhận hiện đại mà có một “quan hệ khác” (Lyotard) với hiện đại. Nó vẫn giữ những mục tiêu mà hiện đại đề ra, chỉ thay thế cách tư duy, cách làm. Nó thay thế tư duy hệ thống bằng tư duy mạng lưới, thay thế các đại tự sự bằng các tiểu tự sự. Các phân mảnh của hậu hiện đại khác với hiện đại ở chỗ chúng có giá trị tự thân. Xã hội nhờ đó trở thành dân sự, dân chủ. Hậu hiện đại có đầy đủ điều kiện để xây dựng một văn hóa mới, tạo ra một bình minh mới sau hoàng hôn của Spengler.

Giới thiệu tác phẩm Hoàng hôn phương Tây (Nxb Phụ nữ Việt Nam & Bách Việt Books, 2026) của Spengler do Phạm Minh Quân dịch, trước hết tôi muốn bạn đọc Việt Nam trải nghiệm tấn bi kịch văn hóa của chủ nghĩa hiện đại châu Âu, sau đó, chuẩn bị tâm thế để đón nhận chủ nghĩa hậu hiện đại. Bởi hậu hiện đại là một thách thức đồng thời cũng là một cơ hội để những nước đang phát triển đuổi kịp các nước phát triển. Con đường tuyến tính giản đơn tiền hiện đại hiện đại hậu hiện đại của phương Tây đã phải trả giá bằng nhiều mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả bằng máu.

Khúc quanh này cho phép Việt Nam trưng dụng và cải hóa cả những yếu tố tiền hiện đại lẫn hiện đại vốn có của mình để xây dựng hậu hiện đại, nơi mà văn hóa và văn minh hợp nhất là Một, nơi mà Việt Nam và thế giới, ngoại vi và trung tâm, là một.

PGS-TS. Đỗ Lai Thúy - Viện trưởng Viện Nhân học Văn hóa

[1] Xem thêm E.B. Tylor (2001), Văn hóa nguyên thủy (Huyền Giang dịch), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội; tái bản 2019, Nxb Tri thức, Hà Nội.











Home Icon VỀ TRANG CHỦ