Hồ sơ số 63/2026: Gần 60 năm tìm người lính cối quê Hà Nam Ninh, hy sinh trên đường về Quân y viện B4

Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, gia đình liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ vẫn chưa tìm được nơi người thân yên nghỉ. Từ Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, bà Trần Thị Ngọc Duyên tiếp tục lần theo danh sách đơn vị, lời kể của đồng đội và dấu tích một nghĩa trang gần Quân y viện B4 thuộc Phân khu II. Gia đình chỉ mong được tiếp cận hồ sơ quy tập để một ngày có thể đón người con quê Yên Bằng trở về.
1- Cuộc chia tay kéo dài gần sáu mươi năm
Có những cuộc chia tay chỉ kéo dài vài tháng, vài năm. Nhưng cũng có những cuộc chia tay kéo dài gần sáu mươi năm mà người ở lại vẫn chưa biết người thân của mình đang nằm ở đâu.
Gia đình bà Trần Thị Ngọc Duyên, hiện sinh sống tại Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, có một cuộc chia tay như thế. Người ra đi là bác cả của bà – liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ, sinh năm 1941, quê xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trước đây, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.
Theo thông tin gia đình cung cấp, trong một số tài liệu hoặc qua lời kể của đồng đội, liệt sĩ còn được ghi với tên Nguyễn Văn Dụ. Đây là một chi tiết quan trọng cần được lưu ý khi tra cứu, đối chiếu hồ sơ quân nhân, danh sách thương vong và tài liệu quy tập sau chiến tranh.
Tháng 2/1965, chàng trai Nguyễn Duy Dụ khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Ngày ấy, quê hương Yên Bằng còn nghèo, những cánh đồng lúa trải dài bên con đường làng quanh co. Cha mẹ tiễn người con cả lên đường trong niềm tự hào xen lẫn nước mắt. Không ai ngờ đó là lần cuối cùng gia đình được nhìn thấy ông.
Người lính trẻ ra đi mang theo tuổi thanh xuân, tình yêu quê hương và lời hẹn giản dị: hoàn thành nhiệm vụ rồi sẽ trở về. Nhưng chiến tranh đã khiến lời hẹn ấy trở thành nỗi chờ đợi kéo dài qua nhiều thế hệ.
Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế về Đại đội 2, Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 31, làm nhiệm vụ trong khẩu đội cối 61 mm, chiến đấu tại địa bàn Phân khu II, Bắc Long An.
Người lính cối phải mang theo khẩu cối, chân đế, bàn đế và những quả đạn nặng trĩu, vượt qua rừng tràm, bưng biền, đồng nước và hệ thống kênh rạch chằng chịt. Mỗi cuộc hành quân có thể kéo dài hàng chục cây số trong điều kiện bom đạn, máy bay trinh sát và những cuộc càn quét liên tục của đối phương.
Theo lời kể của đồng đội mà gia đình còn ghi nhớ, có thời điểm chiến trường quá ác liệt, đơn vị phải bỏ lại gần như toàn bộ quân tư trang, chỉ giữ những thứ thiết yếu nhất phục vụ chiến đấu. Người lính gần như không còn vật dụng cá nhân, chỉ mang theo vũ khí và một túi ni lông nhỏ giữa những cuộc hành quân không biết trước ngày trở lại.
Chiến trường Bắc Long An giai đoạn 1965–1968 là địa bàn đặc biệt ác liệt, có vị trí quan trọng tại cửa ngõ phía tây Sài Gòn. Trong những căn hầm bí mật, giữa rừng tràm và đồng nước, Nguyễn Duy Dụ cùng đồng đội sống, chiến đấu trong điều kiện vô cùng gian khổ. Những bữa cơm nguội ăn vội, những giấc ngủ chập chờn dưới tiếng máy bay và pháo kích đã trở thành một phần đời của lớp thanh niên tuổi đôi mươi thời ấy.
Có lẽ trong những đêm hiếm hoi được nghỉ, người lính quê Yên Bằng cũng nhớ mái nhà, nhớ cha mẹ và những mùa lúa chín. Nhưng nỗi nhớ phải tạm gác lại, bởi phía trước là nhiệm vụ.
2- Cuộc hành quân cuối cùng trong Xuân Mậu Thân 1968
Cuối tháng 1/1968, một chiến dịch lớn được chuẩn bị. Theo tài liệu lịch sử đơn vị mà gia đình tiếp cận, chiều 29/1/1968, Tiểu đoàn 16 nhận lệnh xuất phát. Các mũi hành quân vượt sông Vàm Cỏ Đông, tập kết tại đình Mỹ Thạnh, sau đó tiếp tục qua Bình Thủy, Tân Hòa, Vĩnh Lộc, tiến về hướng Sài Gòn tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Trước giờ xuất quân, những người lính lặng lẽ kiểm tra súng đạn, chia nhau từng ngụm nước và động viên nhau bằng những nụ cười. Không ai nói về cái chết, nhưng tất cả đều hiểu sự khốc liệt đang chờ đợi phía trước.
Trong quá trình chiến đấu yểm trợ cho đồng đội, Nguyễn Duy Dụ bị thương. Đồng đội băng bó rồi cáng ông rời khỏi đội hình. Người thương binh được đưa lên xuồng, di chuyển trong đêm, vượt qua những con rạch và rặng dừa nước để về tuyến quân y phía sau.
Điểm đến được đồng đội nhắc lại là Quân y viện B4, thuộc Phân khu II, Bắc Long An.
Quân y viện trong chiến tranh không phải là bệnh viện với những dãy nhà kiên cố. Đó thường là các lán trại dựng giữa vùng căn cứ, được che giấu dưới tán rừng để tránh máy bay và pháo kích. Những y sĩ, bác sĩ quân y vừa cứu chữa thương binh, vừa sẵn sàng chiến đấu và di chuyển bệnh xá khi vị trí bị lộ. Nhiều ca phẫu thuật được tiến hành dưới ánh đèn dầu, trong tiếng máy bay gầm rú và bom đạn dội xuống quanh vùng căn cứ.
Nhưng Nguyễn Duy Dụ đã không kịp tới nơi cứu chữa. Theo lời đồng đội cung cấp cho gia đình, ông hy sinh trên chiếc xuồng khi đang được chuyển về Quân y viện B4. Ngày hy sinh được gia đình ghi nhận là 30/1/1968, đúng thời điểm tiếng súng của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân bắt đầu vang lên tại nhiều đô thị miền Nam.

Ông ra đi khi mới 27 tuổi – độ tuổi đẹp nhất của đời người.
Đồng đội sau đó mai táng ông tại khu nghĩa trang gần Quân y viện B4. Một nguồn tin còn cho biết nghĩa trang này có tên là “Dòng Yên”, thuộc khu vực Ba Thu – Soài Riêng, Campuchia. Tuy nhiên, tên gọi, vị trí cụ thể và quá trình di chuyển, quy tập các phần mộ tại đây vẫn cần được cơ quan chức năng, đơn vị chuyên môn và những người am hiểu chiến trường xưa tiếp tục kiểm chứng.
Giữa chiến tranh, lễ tiễn đưa một người lính thường diễn ra rất vội. Không vòng hoa, không khăn tang, không có cha mẹ hay anh em bên cạnh. Chỉ có đồng đội, một nấm đất giữa rừng và vài phút mặc niệm trước khi đơn vị tiếp tục lên đường.
Từ giây phút ấy, dấu tích nơi người lính Nguyễn Duy Dụ nằm lại dần khuất vào những biến động khốc liệt của chiến trường.
3- Những đầu mối mong được giải mã
Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều đoàn tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đã trở lại các chiến trường xưa. Nhiều nghĩa trang dã chiến được di chuyển, hàng vạn hài cốt liệt sĩ được đưa về các nghĩa trang để chăm sóc, hương khói. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, không ít phần mộ mất dấu hoặc được quy tập nhưng thiếu thông tin, trở thành những ngôi mộ chưa xác định được danh tính.
Gia đình từng nghe thông tin rằng hài cốt liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ có thể đã được quy tập về một nghĩa trang liệt sĩ tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, nhưng phần mộ chưa xác định được danh tính. Đây mới chỉ là một nguồn tin, chưa đủ căn cứ để khẳng định, song vẫn là đầu mối mà gia đình thiết tha mong được kiểm tra.
Bà Trần Thị Ngọc Duyên cho biết, gia đình hiện còn lưu giữ hình ảnh một trang sổ viết tay mang tiêu đề “Biểu đồ biên chế K2”. Trong đó, nhóm A11 thuộc bộ phận cối 61 gồm 12 người:
1.Cao Lương Bằng
2. Nguyễn Văn Quốc (hoặc Quắc)
3. Trương Văn Kim
4. Vũ Quốc Lập
5. Hoàng Văn Chỉ (hoặc Chí)
6. Nguyễn Văn Má (hoặc Mã)
7. Đinh Như Tuất
8.Nguyễn Văn Thuần
9. Nguyễn Văn Dụ
10. Hà Văn Thoảng
11. Lưu Văn Pôn
12. Hà Văn Lênh
Đáng chú ý, cái tên Nguyễn Văn Dụ được ghi ở vị trí thứ 9, trùng với thông tin đồng đội từng cung cấp cho gia đình về liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ. Sự khác biệt giữa các tên Nguyễn Duy Dụ và Nguyễn Văn Dụ có thể xuất phát từ cách ghi chép, phiên âm hoặc sai lệch trong quá trình sao chép tài liệu chiến trường. Vì vậy, cả 2 tên này đều cần được đưa vào diện tra cứu, đối chiếu với hồ sơ quân nhân, hồ sơ thương vong và danh sách quy tập.

Phía dưới trang sổ còn ghi những dữ liệu quan trọng: “Đại đội 2; Tiểu đoàn 16; Bắc Long An”, “Hy sinh 30/1/1968”, “Nơi táng: Nghĩa trang Quân y viện B4, Phân khu II – Bắc Long An” và “Nhập ngũ: 2/1965”. Các chi tiết này tương đối thống nhất với thông tin gia đình đã thu thập được về thời điểm nhập ngũ, ngày hy sinh, đơn vị chiến đấu và nơi an táng ban đầu của liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ.
Ngoài trang danh sách trên, trong một danh sách bồi dưỡng chiến đấu khác, tên người bác của bà Duyên còn xuất hiện ở vị trí thứ 64. Những dòng chữ viết tay đã nhuốm màu thời gian tuy chưa phải là căn cứ cuối cùng để xác định danh tính và nơi an táng, nhưng là nguồn tư liệu quý, giúp thu hẹp phạm vi tìm kiếm và mở thêm hướng kiểm chứng hồ sơ.
Điều khiến gia đình day dứt là người đồng đội từng cung cấp thông tin về Quân y viện B4 và nơi an táng ban đầu của liệt sĩ nay đã qua đời. Khi đọc các danh sách bệnh viện, bệnh xá và đội điều trị tại chiến trường B2, bà Duyên vẫn chưa tìm thấy đơn vị quân y mang phiên hiệu B4. Dấu hỏi về vị trí bệnh viện dã chiến này vì thế càng trở nên khắc khoải.
“Gia đình đã tìm kiếm nhiều năm nhưng chưa có kết quả. Chúng tôi mong Dự án ‘Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh’ làm cầu nối, giúp gia đình tiếp cận hồ sơ quy tập, hồ sơ quân y và những tài liệu liên quan đến bác”, bà Duyên viết.
Gia đình và những đồng đội từng biết thông tin về liệt sĩ có thể liên hệ với bà Trần Thị Ngọc Duyên, địa chỉ: số nhà 448, Đại lộ Hùng Vương, tổ dân phố Hòa Tiến, Bắc Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; điện thoại: 0372 408 879.
Từ những dữ liệu hiện có, một số hướng tra cứu cần được quan tâm gồm: hồ sơ quân nhân mang tên Nguyễn Duy Dụ, Nguyễn Văn Dụ hoặc Nguyễn Văn Dự; tài liệu của Đại đội 2, Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 31 và đơn vị cối 61; danh sách thương vong trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968; hồ sơ của Quân y viện B4 thuộc Phân khu II; danh sách nhóm A11; danh sách bồi dưỡng chiến đấu có tên người lính ở vị trí thứ 64; cùng hồ sơ quy tập từ khu vực Ba Thu – Soài Riêng về các nghĩa trang liệt sĩ tại Long An, nhất là huyện Đức Huệ.
Đây cũng là một trường hợp rất cần được quan tâm trong “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Nếu tìm được hồ sơ quy tập, sơ đồ nghĩa trang cũ, danh sách thương binh, bệnh binh hoặc nhân chứng từng công tác tại Quân y viện B4, hành trình gần sáu mươi năm của gia đình có thể mở ra một hướng đi mới.
4- Chỉ mong “Bác ơi, bác về nhà rồi!”
Chiến tranh đã lùi xa. Cha mẹ liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ không còn nữa. Những người em của ông nay người còn, người mất. Nhiều đồng đội từng cùng chiến đấu cũng lần lượt trở về với đất mẹ. Cuộc tìm kiếm vì thế được trao lại cho thế hệ cháu con.
Họ tìm kiếm không phải để thay đổi lịch sử, mà để hoàn thành một ước nguyện giản dị: xác định nơi người thân đang yên nghỉ, thắp lên phần mộ một nén hương có tên tuổi và, nếu điều kiện cho phép, đưa người con xa quê trở về với gia đình.
Gần sáu mươi năm là một quãng thời gian rất dài, nhưng gia đình vẫn tin hy vọng chưa khép lại. Bởi một trang hồ sơ được tìm thấy, một sơ đồ quy tập, một danh sách quân y hay một ký ức còn sót lại của nhân chứng đều có thể trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa quá khứ.

Có thể nơi nào đó tại Long An hoặc trên vùng căn cứ cũ bên kia biên giới, người lính Nguyễn Duy Dụ đang nằm dưới một phần mộ chưa xác định được danh tính. Có thể dấu tích còn lại chỉ là một nắm đất, một chiếc răng, một chiếc cúc áo hoặc một mẩu di vật nhỏ nhoi. Nhưng với gia đình, từng ấy cũng có thể là khởi đầu cho ngày đoàn tụ.
Trong thư gửi từ Cam Ranh, người cháu gái nghẹn ngào viết về mong ước được một ngày đứng trước phần mộ đã xác định đúng tên Nguyễn Duy Dụ – hoặc Nguyễn Văn Dụ – để nói câu mà cả gia đình đã chờ đợi gần sáu mươi năm: “Bác ơi, bác về nhà rồi!”
Xin cúi đầu tưởng niệm liệt sĩ Nguyễn Duy Dụ và những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Các anh có thể vẫn chưa trở về trong vòng tay gia đình, nhưng sự hy sinh ấy chưa bao giờ bị lãng quên. Mỗi hồ sơ được mở lại, mỗi địa danh được xác minh và mỗi phần mộ được trả lại tên đều là một hành động của đạo lý uống nước nhớ nguồn, là trách nhiệm của hôm nay đối với những người đã nằm xuống cho đất nước được hòa bình.
Hà Nội, 09/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)
Đặng Vương Hưng
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
9 ngày trước
12 ngày trước
13 ngày trước
14 ngày trước
15 ngày trước
16 ngày trước
14 phút trước
35 phút trước
45 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước