🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Gỡ điểm nghẽn, kích hoạt động lực tăng trưởngBài 3: Từ phòng thí nghiệm đến thị trường:Tháo 'nút thắt' để khoa học tạo ra giá trị

9 giờ trước
Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học của Việt Nam đã tạo ra tri thức và công nghệ mới, nhưng chưa được chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp và thị trường vì thế vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Muốn khoa học thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần khơi thông toàn bộ chuỗi thương mại hóa, từ tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ đến phát triển thị trường.

Giới thiệu sản phẩm “Blife - Hệ thống hỗ trợ giao tiếp cho người khuyết tật vận động nặng” do Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu và phát triển. Ảnh: Quốc Toản

Khoảng cách không nằm ở phòng thí nghiệm

Trong nền kinh tế tri thức, giá trị của một công trình nghiên cứu không chỉ được đo bằng số bài báo hay bằng sáng chế mà ở khả năng trở thành sản phẩm, dịch vụ và tạo ra của cải cho xã hội. Thương mại hóa tài sản trí tuệ vì thế là mắt xích quyết định để biến tri thức thành động lực tăng trưởng. Thế nhưng, đây vẫn là khâu yếu nhất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.

TS Nguyễn Hữu Cẩn, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học sở hữu trí tuệ quốc gia cho biết, Việt Nam hiện nằm trong nhóm 50 quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo nhưng chỉ đứng thứ 112 về thu nhập từ tài sản trí tuệ. Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 cũng cho thấy, Việt Nam xếp thứ 37 về đầu ra đổi mới sáng tạo, trong khi doanh thu từ tài sản trí tuệ lại thuộc nhóm cuối. Nghịch lý này phản ánh năng lực tạo ra tri thức của Việt Nam không thấp, nhưng khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế còn hạn chế.

Điểm nghẽn đầu tiên xuất hiện ngay sau khi kết quả nghiên cứu được tạo ra. Tại các viện nghiên cứu và trường đại học, tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa chỉ khoảng 3%; khoảng 75% sáng chế mới dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL), tức mới hoàn thiện trong phòng thí nghiệm. Hơn một nửa số nhà khoa học cho rằng, cơ chế chia sẻ lợi ích từ chuyển giao công nghệ chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích thương mại hóa.

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội đánh giá, nhiều kết quả nghiên cứu đã có tiềm năng thương mại hóa nhưng còn thiếu hướng dẫn về định giá tài sản trí tuệ, cơ chế thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) và nguồn lực để tiếp tục phát triển công nghệ sau khi nhiệm vụ khoa học kết thúc. Điều các trường đại học cần không chỉ là kinh phí nghiên cứu mà là một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để nuôi dưỡng kết quả nghiên cứu cho đến khi trở thành sản phẩm trên thị trường.

Ở phía doanh nghiệp, việc khai thác tài sản trí tuệ cũng còn nhiều rào cản. Phần lớn doanh nghiệp mới chú trọng nhãn hiệu và bí mật kinh doanh, trong khi chưa coi sáng chế là tài sản tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn. Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải (OIC New) Lưu Hải Minh chia sẻ, dù sở hữu sáng chế, doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận tín dụng do tài sản trí tuệ chưa được công nhận rộng rãi là tài sản bảo đảm, trong khi chi phí bảo hộ và hoàn thiện công nghệ rất lớn. Vì vậy, nhiều sáng chế có giá trị vẫn nằm trên giấy.

Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Nguyễn Hoàng Giang chỉ rõ, ba điểm nghẽn lớn hiện nay là: Định giá tài sản trí tuệ còn thiếu chuẩn mực; thiếu nguồn nhân lực và dữ liệu cho thị trường công nghệ; việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhất là trên môi trường số, chưa đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, các sàn giao dịch khoa học, công nghệ tuy đã được hình thành nhưng lượng giao dịch thành công còn hạn chế; dữ liệu công nghệ chưa được chuẩn hóa và đội ngũ môi giới công nghệ còn mỏng, khiến việc kết nối giữa bên tạo ra công nghệ và bên có nhu cầu ứng dụng chưa thực sự hiệu quả.

Thực tế cho thấy, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường không nằm ở năng lực nghiên cứu mà ở sự đứt gãy của chuỗi thương mại hóa. Khi tài sản trí tuệ chưa được định giá đúng, chưa được bảo vệ và khai thác hiệu quả, còn thị trường công nghệ chưa vận hành thông suốt, thì những kết quả nghiên cứu khó có thể trở thành sản phẩm và động lực tăng trưởng. Muốn khơi thông dòng chảy đổi mới sáng tạo, cần phát triển một thị trường công nghệ thực sự trưởng thành, nơi tài sản trí tuệ được lưu thông như một loại hàng hóa đặc biệt.

Hoàn thiện thị trường để công nghệ tạo ra giá trị

Thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là nhiệm vụ chiến lược để hiện thực hóa các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tư nhân. Muốn tri thức tạo ra giá trị, điều cần hoàn thiện không chỉ là từng chính sách riêng lẻ mà là cả thị trường công nghệ - nơi kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh.

TS Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược (Học viện Chiến lược khoa học và công nghệ) khẳng định, điểm cốt lõi của quá trình đổi mới là chuyển từ quản lý hoạt động nghiên cứu sang quản trị theo kết quả đầu ra, lấy khả năng ứng dụng và thương mại hóa làm thước đo hiệu quả đầu tư. Khi mục tiêu tạo ra giá trị được xác lập ngay từ đầu, các chính sách về sở hữu trí tuệ, tài chính, chuyển giao công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp cũng phải được thiết kế theo mục tiêu đó. Tài sản trí tuệ chỉ có thể trở thành nguồn lực của nền kinh tế khi được định giá đúng để góp vốn, huy động đầu tư và tham gia các giao dịch thương mại. Vì vậy, việc xây dựng bộ tiêu chí định giá, phát triển đội ngũ thẩm định viên và cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch tài sản trí tuệ là nền tảng để thị trường vận hành minh bạch.

Tư duy này đang từng bước được thể chế hóa. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) chuyển trọng tâm từ bảo hộ quyền sang khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ. Đồng thời, các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), hoàn thiện khung pháp lý về định giá tài sản trí tuệ, tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giao dịch công nghệ cũng đang được triển khai.

Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Phạm Đức Nghiệm nhận định, dù nhiều chính sách mới đã được ban hành, việc biến tài sản trí tuệ thành tài sản có thể góp vốn, thế chấp hoặc huy động đầu tư vẫn còn nhiều vướng mắc. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế góp vốn bằng tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích, cần phát triển mạnh các doanh nghiệp spin-off, tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ, đội ngũ môi giới và các nền tảng giao dịch công nghệ. Đây là những chủ thể kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp và nhà đầu tư, giúp kết quả nghiên cứu tìm được thị trường phù hợp.

Về lâu dài, các viện nghiên cứu và trường đại học cũng cần trở thành một bộ phận của hệ sinh thái thị trường công nghệ, thông qua các trung tâm chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp spin-off và hoạt động đào tạo về sở hữu trí tuệ, khởi nghiệp công nghệ. Khi thị trường công nghệ vận hành thông suốt, tài sản trí tuệ được lưu thông hiệu quả và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đổi mới sáng tạo, chất xám mới thực sự trở thành vốn, tri thức mới thực sự trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Thực tế, để quá trình thương mại hóa diễn ra mạnh mẽ và bền vững, thị trường công nghệ vẫn cần một lực lượng trung tâm đủ năng lực đặt hàng nghiên cứu, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và đưa công nghệ ra thị trường. Đó chính là vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

(Còn nữa)

Trần Thu Hằng

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ