🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hành trình xây dựng thành công chuỗi lúa gạo hữu cơ của một nữ doanh nhân ở tỉnh Vĩnh Long

3 giờ trước
Sau gần một thập kỷ kiên trì, bà Lưu Thị Yến Hằng đã đưa lúa gạo hữu cơ và VietGAP không những đứng vững tại thị trường nội địa, mà còn chinh phục các thị trường xuất khẩu khó tính. Tuy nhiên, phía sau những kết quả đó là hành trình đầy thách thức về vốn, thị trường và liên kết sản xuất...

Sau gần một thập kỷ kiên trì, bà Lưu Thị Yến Hằng đã đưa lúa gạo hữu cơ và VietGAP không những đứng vững tại thị trường nội địa, mà còn chinh phục các thị trường xuất khẩu khó tính. Tuy nhiên, phía sau những kết quả đó là hành trình đầy thách thức về vốn, thị trường và liên kết sản xuất...

Bà Lưu Thị Yến Hằng và các sản phẩm gạo hữu cơ của Hồng Tân. Ảnh: Chu Khôi.

Trong khuôn khổ chuyến điền dã Đồng bằng sông Cửu Long do Oxfam tổ chức mới đây, chúng tôi đã đến Công ty TNHH MTV Lương thực Hồng Tân ở phường Tân Ngãi, tỉnh Vĩnh Long. Tiếp chúng tôi tại đây, bà Lưu Thị Yến Hằng, Giám đốc công ty, cho biết trước đây bà là cán bộ của Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Đồng Tháp với 36 năm gắn bó cùng ngành lúa gạo. Khi nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, không ít đơn vị gặp khó khăn rồi giải thể, bà vẫn quyết tâm theo đuổi nghề và tự xây dựng doanh nghiệp riêng.

KIÊN TRÌ XÂY DỰNG CHUỖI LÚA GẠO HỮU CƠ

Thành lập từ năm 2017, Công ty Lương thực Hồng Tân lựa chọn hướng phát triển bền vững, tập trung vào các sản phẩm chế biến từ gạo có giá trị gia tăng thay vì chỉ kinh doanh lúa gạo thông thường.

Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Hồng Tân đã lựa chọn xây dựng vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn an toàn và hữu cơ. Doanh nghiệp liên kết với nông dân, hợp tác xã để tổ chức sản xuất, từng bước chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang hữu cơ.

Bà Hằng chia sẻ cùng các nhà báo. Ảnh: Chu Khôi.

"Năm 2019 chúng tôi chỉ có hơn 10 ha lúa hữu cơ nên gần như không đủ sản phẩm để bán. Việc mở rộng vùng nguyên liệu cần rất nhiều thời gian, nguồn lực và sự đồng hành của nông dân”, bà Hằng chia sẻ.

Đến nay, Hồng Tân đã liên kết sản xuất lúa an toàn với nhiều hợp tác xã, gồm: Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Trà Vinh (52 ha), Hợp tác xã Vinh Lợi (Sóc Trăng, 55 ha), Hợp tác xã Nam Quý (Vĩnh Long, 30 ha), Hợp tác xã Tân Tiến (Vĩnh Long, 20 ha), Hợp tác xã Hội Tường (Vĩnh Long, 10 ha) và Hợp tác xã Thắng Lợi (Đồng Tháp, 5 ha). Doanh nghiệp cũng đã xây dựng được 75 ha vùng nguyên liệu hữu cơ được chứng nhận, gồm 55 ha tại Sóc Trăng và 20 ha tại Kiên Giang.

Tuy nhiên, theo bà Hằng, sản xuất hữu cơ là hành trình nhiều thử thách. Để đạt được các chứng nhận hữu cơ quốc tế, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí lớn và đáp ứng hàng loạt yêu cầu nghiêm ngặt. Trong khi đó, diện tích sản xuất hữu cơ còn hạn chế, mỗi năm chỉ sản xuất được một vụ nên sản lượng chưa đáp ứng nhu cầu thị trường.

Khó khăn lớn nhất không chỉ nằm ở kỹ thuật sản xuất mà còn ở việc xây dựng và duy trì liên kết với nông dân. Để triển khai mô hình tại một địa phương, doanh nghiệp phải làm việc với nhiều cơ quan chuyên môn nhằm kết nối với hợp tác xã và người dân. Ngay cả khi có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, việc thay đổi tập quán sản xuất của nông dân vẫn là thách thức lớn.

Hiện Hồng Tân đã hỗ trợ người dân giống lúa xác nhận và vật tư nông nghiệp ngay từ đầu vụ. Toàn bộ chi phí này được hoàn trả sau khi thu hoạch, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải ứng vốn trước hơn ba tháng và chỉ thu hồi được khi thu mua sản phẩm.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn cam kết đầu ra cho nông dân thông qua các hợp đồng liên kết. Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng không phải lúc nào cũng thuận lợi. Khi giá thị trường tăng, một số hộ dân muốn điều chỉnh giá hoặc bán sản phẩm ra bên ngoài; ngược lại, khi giá giảm thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đúng cam kết đã ký.

Nhiều sản phẩm gạo của Hồng Tân được chứng nhận OCOP. Ảnh: Chu Khôi.

Những biến động đó khiến doanh nghiệp nhiều lần rơi vào tình trạng mất cân đối cung cầu. Khi lượng hàng vượt nhu cầu tiêu thụ, công ty buộc phải thu mua dự trữ, kéo theo chi phí vốn, bảo quản và lãi vay tăng cao. Hàng tồn kho kéo dài cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Song song với việc phát triển vùng nguyên liệu, Hồng Tân tập trung xây dựng các dòng gạo hữu cơ và gạo màu phục vụ nhu cầu tiêu dùng lành mạnh. Đây là nhóm sản phẩm được nhiều người tiêu dùng quan tâm nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với người mắc bệnh tiểu đường, người cao tuổi và những người theo đuổi chế độ ăn thực dưỡng. Nhiều sản phẩm gạo hữu cơ và gạo màu của Hồng Tân đã được chứng nhận OCOP 3 sao và 4 sao.

VƯỢT KHÓ ĐỂ GIỮ VỮNG THỊ TRƯỜNG

Để xây dựng niềm tin với khách hàng, bà Hằng cho biết doanh nghiệp đã tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm, festival và chương trình kết nối giao thương. Tại những sự kiện này, người tiêu dùng được trực tiếp trải nghiệm sản phẩm, dùng thử cơm nấu từ gạo hữu cơ và tìm hiểu quy trình sản xuất.

“Niềm tin của người tiêu dùng không thể xây dựng trong ngày một ngày hai. Chúng tôi phải kiên trì giới thiệu sản phẩm, chứng minh chất lượng bằng chính sản phẩm thực tế và những phản hồi tích cực từ khách hàng”, bà Hằng chia sẻ.

Đoàn nhà báo chụp ảnh kỷ niệm tại Công ty Hồng Tân.

Về xuất khẩu, trước năm 2024, mỗi năm Hồng Tân xuất khẩu từ 700-1.000 tấn gạo, chủ yếu là các dòng gạo sản xuất theo quy trình an toàn. Một phần sản phẩm mang thương hiệu Hồng Tân đã có mặt tại Pháp và Ukraine.

Tuy nhiên, những năm gần đây hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Do những quy định mới từ Bộ Công Thương, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện hạ tầng (kho chứa, nhà máy xay sát…) mới được cấp giấy phép xuất khẩu, nên Hồng Tân phải xuất khẩu gạo thông qua đơn vị trung gian thay vì giao dịch trực tiếp như trước, làm phát sinh thêm chi phí và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Hiện công ty vẫn đang tìm kiếm đối tác phù hợp để khôi phục và mở rộng hoạt động xuất khẩu. Dù vậy, trong bối cảnh nhu cầu trong nước gia tăng, phần lớn sản lượng hữu cơ hiện được tiêu thụ tại thị trường nội địa.

Theo bà Hằng, dù nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các sở, ngành, địa phương cũng như các tổ chức như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Oxfam thông qua các chương trình đào tạo, xúc tiến thương mại và hỗ trợ thiết bị sản xuất, nhưng bài toán vốn vẫn là trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

“Điều chúng tôi mong muốn nhất là được tiếp cận các nguồn vốn tín chấp với lãi suất phù hợp để có thể mở rộng vùng nguyên liệu và đầu tư máy móc thiết bị. Hiện nay doanh nghiệp phải ứng vốn cho nông dân, dự trữ hàng hóa và duy trì nguồn cung ổn định nên áp lực tài chính rất lớn”, bà Hằng chia sẻ; đồng thời cho biết các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đang từng bước được triển khai, song nhiều chương trình yêu cầu doanh nghiệp phải có vốn đối ứng từ 50-70%, điều mà không phải doanh nghiệp nhỏ nào cũng đáp ứng được.

Dẫu còn nhiều khó khăn, Hồng Tân vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao. Hành trình của doanh nghiệp cho thấy sản xuất hữu cơ không chỉ là câu chuyện tạo ra sản phẩm sạch mà còn là nỗ lực xây dựng niềm tin thị trường, gắn kết với nông dân và từng bước khẳng định vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển nông nghiệp bền vững.

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ