🔍
Chuyên mục: Kinh tế

GS.TS Trang Sĩ Trung - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trường Đại học Nha Trang: Đột phá để chuyển đổi mô hình kinh tế biển

1 giờ trước

Với khát vọng đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ có những quyết sách đột phá để chuyển đổi mô hình kinh tế biển theo hướng "Xanh - Bền vững - Thích ứng với biến đổi khí hậu". Dựa trên thực tiễn và xu thế phát triển, tôi xin đóng góp ý kiến tập trung vào 3 trụ cột chiến lược sau:

GS.TS Trang Sĩ Trung - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trường Đại học Nha Trang.

Thứ nhất, khoa học, công nghệ (KH-CN) là động lực then chốt cho kinh tế biển xanh. Trong bối cảnh tài nguyên tự nhiên suy giảm và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường, chúng ta cần chuyển dịch từ phương thức khai thác truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Chúng ta cần ưu tiên nguồn lực cho 3 nhóm công nghệ mũi nhọn. Trong đó, đối với nhóm công nghệ nuôi biển và sinh học, tập trung vào công nghệ sản xuất giống thủy sản chất lượng cao và nuôi biển công nghiệp ngoài khơi. Đây là khâu then chốt để giải quyết bài toán suy giảm nguồn lợi tự nhiên. Đối với nhóm chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), tập trung ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong giám sát môi trường, dự báo thiên tai và quản lý vùng bờ. Công nghệ phải phục vụ đắc lực cho việc đánh giá sức tải môi trường, quy hoạch không gian biển, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái. Ở nhóm năng lượng và công nghệ đại dương, cần có cơ chế đặc thù để thúc đẩy nghiên cứu, đầu tư năng lượng tái tạo ngoài khơi (điện gió, điện sóng), từng bước kết hợp với các công nghệ khai thác tài nguyên biển sâu.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tư duy chuỗi giá trị. Nguồn nhân lực là nền tảng cốt lõi quyết định sự thành bại của chiến lược biển. Để phát triển kinh tế biển bền vững và toàn diện, công tác đào tạo cần thoát khỏi tư duy cục bộ, mở rộng ra tất cả các lĩnh vực kinh tế biển chủ lực và các ngành mới nổi. Trong đó, cần tập trung xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực đồng bộ cho 3 trụ cột. Một là, nhân lực KH-CN, cụ thể là đào tạo đội ngũ chuyên gia về công nghệ đại dương, năng lượng tái tạo ngoài khơi, kỹ thuật công trình biển và khai thác tài nguyên biển sâu. Hai là, nhân lực dịch vụ và kinh tế biển, chú trọng đào tạo nhân lực trình độ cao cho các ngành logistics cảng biển, vận tải biển quốc tế và du lịch biển đảo cao cấp. Đội ngũ này cần có kỹ năng quản trị hiện đại, am hiểu luật pháp quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ba là, nhân lực quản lý và bảo tồn, cụ thể là xây dựng đội ngũ quản lý có tư duy tổng hợp về không gian biển, có khả năng hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng khoa học để giải quyết hài hòa bài toán giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển nhân lực nên được tiếp cận theo chuỗi giá trị: Từ khâu quy hoạch, nghiên cứu, sản xuất, khai thác đến chế biến, dịch vụ hậu cần và thương mại.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế và thu hút nguồn lực xã hội hóa. Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thông qua việc hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách khuyến khích đầu tư. Cụ thể, cần xây dựng chính sách đãi ngộ vượt trội để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế biển đầu ngành trong và ngoài nước; thúc đẩy hợp tác công - tư, tăng cường liên kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và địa phương để hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo biển gắn liền với thực tiễn sản xuất. Bên cạnh đó, các chính sách phát triển phải đi đôi với nghiên cứu xã hội học, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân ven biển.

Tóm lại, việc đầu tư bài bản cho KH-CN và con người chính là chìa khóa để kinh tế biển Việt Nam phát triển hiệu quả, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và trở thành động lực tăng trưởng bền vững của đất nước.

X.T (Ghi)

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ