Tái định hình phát triển kinh tế biển

Phát triển kinh tế biển phải dựa trên quy hoạch, dựa trên khoa học công nghệ và thể chế minh bạch, hiệu lực, hiệu quả
Mở cánh cửa vươn ra biển lớn
Việt Nam có bờ biển dài, vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền, là không gian kinh tế - sinh thái quan trọng và là trụ cột chiến lược đối với phát triển và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ông Nguyễn Đức Toàn, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, kinh tế của các tỉnh, thành phố ven biển hiện đóng góp xấp xỉ 50% GDP cả nước; xuất khẩu thủy sản tăng từ 8,8 tỷ USD năm 2018 lên trên 11,34 tỷ USD năm 2025… Du lịch biển giữ vai trò chủ lực, tạo động lực phát triển cho hàng loạt đô thị ven biển từ Bắc vào Nam; năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi có tiềm năng hàng đầu khu vực.
Không chỉ phát triển kinh tế biển trong nước, Việt Nam còn có cơ hội tiến xa hơn nữa. Ông Nguyễn Minh Vũ, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao cho biết, Hiệp định thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia vừa chính thức có hiệu lực từ ngày 17/1/2026 mở ra những cơ hội và không gian hợp tác to lớn và chưa từng có cho Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học biển và phát triển bền vững kinh tế biển. Việc trở thành một trong những quốc gia thành viên ngay từ sớm tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp cận tri thức, dữ liệu và công nghệ tiên tiến, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học biển, quản lý và bảo vệ môi trường biển. Đây cũng là cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam tham gia thực chất vào các hoạt động nghiên cứu, tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen biển ở biển quốc tế và đáy biển sâu, góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế biển hiện đại, dựa trên khoa học và đổi mới sáng tạo.
Kinh tế biển Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt phá lớn, song cũng đối mặt những thách thức ngày càng phức tạp từ biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, sức ép về đầu tư hạ tầng và cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế đại dương toàn cầu. Bên cạnh đó, ông Nguyễn Duy Hưng, Phó trưởng Ban Chính sách chiến lược Trung ương cho rằng, quy mô kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; một số ngành cạnh tranh thấp. Khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốt. Công tác điều tra cơ bản, ứng phó biến đổi khí hậu còn bất cập; hạ tầng kỹ thuật biển yếu, logistics phát triển chậm. Việc phát huy vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường biển còn hạn chế; du lịch biển chưa thực sự bền vững. Biển là không gian đa mục tiêu, đa ngành, nếu không quản lý theo phương thức tổng hợp, thì rất dễ xảy ra chồng lấn, xung đột và lãng phí nguồn lực.
Không gian phát triển chiến lược của quốc gia
Chia sẻ kinh nghiệm, bà Hilde Solbakken, Đại sứ Na Uy tại Việt Nam nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy, ở đâu làm tốt quản lý tổng hợp, gắn quy hoạch không gian biển với quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương, thì ở đó hiệu quả sử dụng tài nguyên biển cao hơn và môi trường được bảo vệ tốt hơn. Việt Nam hiện có 21 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố có biển. Vì vậy, các địa phương này, cũng như ở cấp quốc gia, tất cả các bên sử dụng không gian biển cần cùng xác định và hài hòa các lợi ích của mình, trên cơ sở những tác động tới môi trường trong phạm vi cho phép. Bên cạnh đó, đây cũng là công cụ then chốt để Việt Nam có thể phát triển thành công các ngành kinh tế biển mới trong tương lai và tận dụng những tiềm năng rất lớn về nuôi biển và phát triển điện gió ngoài khơi.
Bên cạnh đó, GS.TS. Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, kinh tế biển cần được quan tâm đúng mức để khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo theo hướng bền vững, tạo sự thống nhất hữu cơ giữa các vùng. Cần tăng diện tích các khu bảo tồn, bảo vệ biển và ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích biển quốc gia; Phát triển nuôi trồng hải sản trên biển theo hướng xanh, công nghệ mới, tiên tiến gắn với bảo vệ môi trường; Chuyển hướng nghề cá từ gần bờ, ven đảo sang nuôi biển gắn với bảo vệ, tái tạo nguồn lợi hải sản. Đồng thời đẩy mạnh khai thác xa bờ phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển; Đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch đặc thù phù hợp với điều kiện địa lý, tài nguyên du lịch từng vùng, khu vực, địa phương; Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt đối với rác thải nhựa; Thúc đẩy và khuyến khích đầu tư xây dựng, khai thác điện gió ngoài khơi, công nghiệp hydrogen, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác.
Cùng với đó, phát triển các ngành kinh tế biển mới, nhiều tiềm năng như dược liệu biển, y học biển, hóa học biển, các vật liệu mới; Ưu tiên phát triển hệ thống cảng biển, logistics, tối ưu hóa việc vận chuyển hàng hóa, tạo ra kết nối hiệu quả với thị trường nội địa và quốc tế.
Để đạt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế biển sẽ đóng góp 10% GDP cả nước, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng một lần nữa khẳng định, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong đó, cần tổ chức lại không gian phát triển kinh tế biển theo hướng hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, phù hợp đặc thù từng vùng biển và từng địa phương, đồng thời tiếp cận các chuẩn mực quốc tế.
Bên cạnh đó, phát triển mạnh các ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là năng lượng tái tạo ngoài khơi, dịch vụ logistics biển, công nghiệp công nghệ cao ven biển, thị trường tín chỉ carbon, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và du lịch biển chất lượng cao. Đồng thời, xây dựng thể chế quản lý biển hiện đại dựa trên dữ liệu, gắn với việc thúc đẩy liên kết vùng ven biển nhằm đảm bảo phát triển bền vững lâu dài; khuyến khích và phát huy vai trò của khu vực tư nhân thông qua môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và thuận lợi.
Võ Giang
3 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
3 giờ trước
3 giờ trước
54 phút trước
50 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước