Khơi thông 'dòng chảy' khí tự nhiên cho công nghiệp

Giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng khai thác khí đạt khoảng 5,95 - 8,08 tỷ m3/năm.
Khí tự nhiên từ lâu đã khẳng định là nguồn năng lượng đa năng. Ngoài vai trò nhiên liệu phát điện, nguồn tài nguyên này là đầu vào thiết yếu, không thể thay thế của nhiều ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Từ các lò nung trong ngành xi măng, sắt thép cho đến quy trình sản xuất phân bón và hóa chất, khí tự nhiên luôn hiện diện như một nhân tố đảm bảo hiệu suất và chất lượng sản phẩm.
NHỮNG "NÚT THẮT" PHÁT TRIỂN KHÍ TỰ NHIÊN
Tại hội thảo khoa học “Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp – Hướng tới sản xuất xanh và Net Zero 2050” diễn ra ngày 22/01/2026 do Hiệp hội năng lượng Sạch Việt Nam tổ chức, bức tranh toàn cảnh về ngành này đã được phác thảo rõ nét.
Theo ông Nguyễn Khắc Quyền, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, hiện nay khí tự nhiên đang được khai thác tại 26 mỏ khí và mỏ dầu - khí đồng hành. Những cái tên quen thuộc như Lan Tây, Lan Đỏ, Rồng Đôi, Hải Thạch Mộc Tinh, Bạch Hổ, hay khu vực PM3 - CAA đã và đang là những "mạch máu" chính cung cấp năng lượng cho quốc gia.
Đặc biệt, nhu cầu sử dụng khí tự nhiên đang có xu hướng tăng cao mạnh mẽ khi các ngành sản xuất chuyển mình theo hướng sản xuất xanh. Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn 2021-2024, tổng tiêu thụ khí dao động khoảng 1.900 - 2.100 KTOE.
Trong cơ cấu tiêu thụ, lĩnh vực điện lực vẫn giữ vị thế áp đảo khi chiếm tới 65 - 70% tổng sản lượng khí thương phẩm hằng năm. Phần còn lại, khoảng 30 - 35%, được phân bổ cho các ngành công nghiệp ngoài điện lực, tập trung chủ yếu vào sản xuất phân bón, hóa chất và các ngành chế biến khác. Điều này cho thấy sự phụ thuộc chặt chẽ của các trụ cột kinh tế vào nguồn nhiên liệu sạch này.
Dù tiềm năng và nhu cầu là rất lớn, nhưng ngành khí Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ. Điểm đáng lo ngại nhất chính là sự suy giảm rõ rệt của sản lượng khí nội địa kể từ sau năm 2016. Nhiều mỏ khí lớn đã bước vào giai đoạn suy kiệt tự nhiên, trong khi các mỏ mới được phát hiện lại có quy mô nhỏ hoặc tiến độ phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Cụ thể, trong giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng khai thác chỉ đạt khoảng 5,95 - 8,08 tỷ m3/năm và dự báo sẽ còn tiếp tục giảm sâu nếu không có các dự án mới kịp thời bù đắp. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn còn khoảng 30 mỏ chưa có kế hoạch phát triển cụ thể do điều kiện địa lý khó khăn, nằm ở vùng nước sâu, xa bờ hoặc có trữ lượng thấp, gây khó khăn cho việc khai thác thương mại.

TS Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Sạch Việt Nam phát biểu khai mạc.
Một rào cản khác nằm ở vấn đề hạ tầng và khả năng tự chủ. Hiện tại, Việt Nam chưa làm chủ được khâu sản xuất LNG (Khí thiên nhiên hóa lỏng), dẫn đến việc toàn bộ nguồn LNG sử dụng đều phải nhập khẩu. Sự thiếu vắng năng lực hóa lỏng trong nước cùng hệ thống kho cảng, đường ống chưa đồng bộ, còn mang tính cục bộ theo từng dự án đã làm giảm tính chủ động của nền kinh tế trước những biến động giá năng lượng toàn cầu.
Hơn nữa, hệ thống chính sách cũng đang bộc lộ những điểm chưa theo kịp thực tế. Các quy định về giá khí, cơ chế hợp đồng dài hạn và phân bổ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp vẫn còn thiếu sự đồng bộ. Điều này vô hình trung tạo ra áp lực lớn lên cân đối cung cầu, đặc biệt là khi nhu cầu khí cho phát điện và công nghiệp không ngừng tăng lên.
HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ
Để giải quyết những tồn tại này, định hướng phát triển giai đoạn 2025 – 2035 cần tập trung vào việc thay thế các nhiên liệu hóa thạch truyền thống như than và dầu bằng các loại khí sạch hơn như CNG (Khí thiên nhiên nén) và LNG. Mục tiêu không chỉ là giảm phát thải mà còn là nâng cao hiệu quả kinh tế cho các ngành từ sản xuất xi măng, thép đến thực phẩm và điện tử.
Ông Nguyễn Khắc Quyền nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển một ngành công nghiệp khí hoàn chỉnh và đồng bộ ở tất cả các khâu: từ khai thác, thu gom, vận chuyển đến chế biến, dự trữ và phân phối.
Để làm được điều này, một trong những giải pháp then chốt là hoàn thiện khung pháp lý. Việc rà soát, thống nhất các quy định từ thăm dò đến nhập khẩu LNG sẽ giúp loại bỏ các "điểm nghẽn" về thủ tục đầu tư, tạo ra một môi trường minh bạch và có khả năng dự báo dài hạn cho các nhà đầu tư.
Đồng thời, việc xây dựng cơ chế giá khí và giá điện khí LNG theo nguyên tắc thị trường là yếu tố sống còn. Khi mức giá được hình thành dựa trên cung cầu và chi phí thực tế, có lộ trình ổn định, các doanh nghiệp sẽ tự tin hơn trong việc xây dựng phương án đầu tư và chuyển đổi nhiên liệu.
Cùng với đó, khơi thông nguồn lực và ứng dụng công nghệ trong lộ trình hướng tới Net Zero, việc phát triển hạ tầng cần được ưu tiên hàng đầu. Đối với nguồn khí nội địa, cần nâng cấp hệ thống thu gom từ các mỏ hiện hữu và kết nối trực tiếp với các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển. Đối với thị trường khí, cần từng bước hình thành mô hình cạnh tranh dưới sự điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Việc huy động nguồn lực xã hội thông qua các mô hình hợp tác công tư (PPP) cũng sẽ giúp giảm bớt áp lực ngân sách, đồng thời tận dụng được kinh nghiệm vận hành từ khu vực tư nhân. Việc mở rộng hợp tác quốc tế cũng cần được đẩy mạnh để tiếp cận vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực LNG. Những mối liên kết này không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn cung mà còn giúp giảm chi phí trung gian, nâng cao tính ổn định cho hệ thống năng lượng.
Cuối cùng, không thể không nhắc đến vai trò của khoa học, công nghệ. Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong tìm kiếm, thăm dò sẽ giúp nâng cao hệ số thu hồi tại các mỏ cũ và khai thác hiệu quả các mỏ cận biên, mỏ nhỏ có địa chất phức tạp. Trong khâu vận hành, chuyển đổi số và tự động hóa sẽ là chìa khóa để giảm thiểu tổn thất và tối ưu hóa hiệu quả của toàn bộ hệ thống hạ tầng khí quốc gia.
Vũ Khuê
2 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
10 giờ trước
3 giờ trước
42 phút trước
3 giờ trước
49 phút trước
38 phút trước
38 phút trước
1 giờ trước