Gia cố nội lực, điều hành vĩ mô làm 'trụ đỡ' trước 'sóng gió' Trung Đông

Khu công nghiệp Hưng Phú (xã Hưng Phú) đang được khẩn trương xây dựng theo hướng công nghiệp xanh, đồng bộ, hiện đại. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Tăng trưởng những tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực với các động lực truyền thống duy trì ổn định. Tuy nhiên, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang tạo ra cú sốc mới về năng lượng, logistics và lạm phát. Diễn biến này đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của năm 2026, tạo nền tảng cho tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trước nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, từ việc gia cố nội lực và chủ động điều hành chính sách vĩ mô đến những giải pháp từ góc độ doanh nghiệp, lĩnh vực ngành hàng trở thành “trụ đỡ” then chốt để ổn định nền kinh tế, giữ đà tăng trưởng cao.
Thông tấn xã Việt Nam thực hiện 5 bài viết “Giữ đà tăng trưởng cao trước "sóng gió" Trung Đông” nhằm phân tích toàn diện những tác động của biến động địa chính trị tới kinh tế Việt Nam, từ vĩ mô đến từng ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở đó, loạt bài làm rõ vai trò của nội lực, điều hành chính sách và năng lực thích ứng của doanh nghiệp trong việc giảm thiểu “cú sốc ngoại sinh”, duy trì đà tăng trưởng cao; đồng thời gợi mở những hướng đi căn cơ nhằm nâng cao sức chống chịu cho nền kinh tế theo hướng bền vững.
Bài 1: Gia cố nội lực, điều hành vĩ mô làm "trụ đỡ"
Nhìn vào bức tranh kinh tế những tháng đầu năm 2026 có thể thấy, các động lực tăng trưởng truyền thống như: thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu ngân sách nhà nước, đầu tư công, xuất nhập khẩu và sản xuất công nghiệp… vẫn được duy trì tích cực.
"Nội lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn khá tích cực và nội lực này được nối tiếp đà tăng trưởng của năm 2025 và những nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong hoàn thành mục tiêu tăng trưởng. Trên thực tế, nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức kinh tế thế giới và khu vực đánh giá Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tăng trưởng cao nhất trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương", TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia Chính sách công (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) nhìn nhận.
Cùng với đó, các tổ chức quốc tế đã tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 lên 7-7,5%, cao hơn mức dự báo khoảng 6-6,5% được đưa ra trước đó. “Mức dự báo này thấp hơn so với mục tiêu 10% trở lên mà Chính phủ đưa ra, nhưng cũng thể hiện niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam”, TS. Nguyễn Quốc Việt cho biết thêm.
Mặc dù có những tín hiệu tích cực, nhưng bối cảnh mới của kinh tế toàn cầu cũng đang tạo ra những áp lực đối với mục tiêu tăng trưởng của kinh tế Việt Nam; trong đó điển hình là cuộc xung đột tại Trung Đông đã khiến giá xăng dầu tăng cao trong những ngày vừa qua. Trong khi đây là mặt hàng thiết yếu ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động đi lại của người dân, giá xăng dầu tăng cũng khiến cho giá cả các mặt hàng thiết yếu khác trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao, làm ảnh hưởng đến nguy cơ kiểm soát lạm phát dưới 4,5% trong năm 2026.
Cũng nói về tác động của tình hình tại Trung Đông đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam trong năm 2026, ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho rằng, xung đột leo thang tại Trung Đông đang tạo ra những biến động với chuỗi cung ứng và vận tải toàn cầu, qua đó tác động nhiều mặt tới kinh tế thế giới và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, một số yếu tố chi phí như năng lượng và logistics sẽ gây áp lực nhất định lên lạm phát, đồng thời hoạt động thương mại quốc tế có thể diễn biến thận trọng hơn trong thời gian tới...
Cụ thể, căng thẳng tại Trung Đông đã khiến giá năng lượng và chi phí vận tải quốc tế tăng; đồng thời, làm tăng rủi ro trên một số tuyến hàng hải quan trọng. Khi các tuyến vận tải đi qua khu vực này phải điều chỉnh hải trình, thời gian giao hàng có thể kéo dài hơn và chi phí logistics tăng lên, qua đó tạo áp lực nhất định đối với hoạt động thương mại toàn cầu.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, những biến động này có thể làm tăng chi phí vận chuyển và yêu cầu doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch logistics. Các ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn và phụ thuộc nhiều vào chuỗi cung ứng quốc tế như: điện tử, dệt may, da giày có thể chịu tác động nhất định nếu thời gian giao hàng kéo dài. Một số mặt hàng nông sản và thủy sản cũng có thể chịu ảnh hưởng khi chi phí bảo quản và vận chuyển lạnh tăng.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cũng nhận định: Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, nên chịu áp lực "nhập khẩu lạm phát" khi giá dầu Brent neo cao. Đặc biệt, chiến sự Trung Đông tác động đến Việt Nam qua 3 kênh chính. Thứ nhất, giá năng lượng khi chi phí xăng dầu và khí đốt tăng trực tiếp đẩy CPI thêm khoảng 0,3-0,5 điểm %. Thứ hai, logistics hàng hải, cước container đi Mỹ và EU tăng khoảng từ 150-200% do tàu phải vòng qua mũi Hảo Vọng, kéo dài thời gian vận chuyển thêm 12-15 ngày. Thứ ba, áp lực tỷ giá từ đồng USD mạnh khiến chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp bị đội lên.

Nhà máy điện gió số 3 tại vị trí V1-3 (Nhà máy điện gió Duyên Hải) trên địa bàn phường Trường Long Hòa, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Phạm Minh Tuấn-TTXVN.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong – nguyên Phó Vụ trưởng, Phó Ban tuyên truyền lý luận Báo Nhân dân cho rằng, diễn biến từ Trung Đông gây ra tâm lý đầu cơ và làm đồng tiền đắt đỏ hơn, áp lực lên tỷ giá VND/USD sẽ khiến chi phí nhập khẩu nguyên liệu sản xuất tăng mạnh, đe dọa trực tiếp đến tính ổn định của chuỗi cung ứng; đồng thời, tác động tạo cú sốc cung và tâm lý đầu cơ, dự trữ kéo dài, làm ảnh hưởng đến đầu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với đó là áp lực nhập khẩu lạm phát. Khi chi phí sản xuất toàn cầu bị đẩy lên, giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam cũng tăng theo. Điều này cộng hưởng với áp lực tỷ giá VND/USD khiến "túi tiền" của doanh nghiệp bị bào mòn.
Trước bối cảnh đó, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong năm 2026, TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, yếu tố đầu tiên cần quan tâm đó là ổn định kinh tế vĩ mô và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng, chi phí thấp, tạo thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp hoạt động.
Trên thực tế, từ chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới đến điều hành của Chính phủ, giải pháp của bộ ngành... cho thấy một chuỗi giải pháp đã được chủ động kích hoạt và triển khai đồng bộ ứng phó với biến động năng lượng từ bên ngoài.
Tại cuộc họp triển khai Kết luận số 14 vào chiều 21/3, trước diễn biến khủng hoảng xăng dầu thế giới phức tạp, khó định đoán, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh 4 mục tiêu lớn: Dứt khoát không để thiếu năng lượng nói chung và xăng dầu nói riêng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong bất cứ tình hình nào; phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân; phục vụ cho tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo; quản trị được các rủi ro có thể xảy ra.
Trước đó, ngay sau khi căng thẳng Trung Đông leo thang, ngày 4/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 385/QĐ-TTg về thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành có phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, "không để bị động, bất ngờ" trước diễn biến giá xăng dầu.
Tiếp theo đó, tại cuộc họp với các bộ, ngành liên quan về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa diễn ra vào ngày 5/3, Thủ tướng Chính phủ cũng đã cùng các bộ, ngành đánh giá, tình hình khu vực, thế giới đang chuyển biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Trong khi đó, Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, có nền kinh tế đang chuyển đổi, độ mở cao. Vì vậy, những tác động, diễn biến từ bên ngoài sẽ gây đứt gãy các chuỗi cung ứng; giá vận tải, chi phí logistics tăng; năng lượng gặp khó khăn khiến chi phí sản xuất tăng cao, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, sinh kế của người dân.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nắm chắc tình hình, bình tĩnh, không bi quan nhưng cũng không chủ quan. Từ đó đề ra nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, khả thi nhằm phát huy hết những lợi thế cạnh tranh, tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội của đất nước và hạn chế tối đa những điểm tiêu cực tác động đến nền kinh tế.
Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu tổng quát là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng từ 10%, đảm bảo các cân đối lớn; kiểm soát nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài trong giới hạn cho phép; đồng thời, phải thích ứng linh hoạt, an toàn, hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra, không để bị động, bất ngờ, lúng túng và chủ động ứng phó với tình hình.
Thúy Hiền/Bnews/Vnanet.vn
3 giờ trước
14 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
1 giờ trước
34 phút trước
15 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
39 phút trước
44 phút trước