🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đừng để những “mùa vàng” làm đất kiệt sức

53 phút trước
Khoảng 12 triệu ha đất Việt Nam đang bị thoái hóa, trong đó khoảng 5 triệu ha đất nông nghiệp. Thực trạng này đặt ra yêu cầu nhìn lại cách sử dụng, quản lý và bảo vệ đất.

Đất không chỉ là tư liệu sản xuất

Tại hội thảo trực tuyến (webinar) “Đi tìm quyền của đất” do Mạng lưới Nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp tổ chức trực tuyến chiều 21/8, TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Tổ chức Forest Trends và TS. Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông (cũ), đặt vấn đề: Nếu đất không chỉ là tài sản, tư liệu sản xuất mà còn là một hệ sinh thái có chức năng và giới hạn riêng, con người cần ứng xử với đất như thế nào?

Theo TS. Tô Xuân Phúc, vấn đề thoái hóa, sa mạc hóa đất cần được nhìn nhận trong bối cảnh toàn cầu. Hội nghị lần thứ 17 các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD COP17) diễn ra từ ngày 17-28/8/2026 tại Ulaanbaatar, Mông Cổ, với chủ đề “Restoring Land, Restoring Hope” (Phục hồi đất đai, khôi phục niềm hy vọng). Thông điệp này cho thấy đất đai ngày càng được nhìn nhận như nền tảng của an ninh lương thực, nguồn nước, sinh kế và ổn định xã hội. Khi đất mất đi các chức năng vốn có, hệ lụy có thể lan rộng sang mất sinh kế, di cư, cạnh tranh tài nguyên và nhiều vấn đề xã hội khác.

Cánh đồng rươi tại thôn Đức Vĩnh, xã Đức Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Nguồn ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường

Các số liệu được chia sẻ tại webinar cho thấy khoảng 40% diện tích đất trên thế giới đang bị thoái hóa. Mỗi năm, khoảng 12 triệu ha đất tại khoảng 110 quốc gia chịu tác động trực tiếp của thoái hóa và sa mạc hóa. Đáng chú ý, để hình thành khoảng 2,5 cm đất mặt có thể cần tới 500 năm, trong khi con người chỉ mất vài năm để làm suy thoái hoặc mất đi lớp đất này nếu sử dụng không hợp lý. Hiện khoảng 500 triệu người đang sinh sống và phụ thuộc vào những vùng đất bị thoái hóa.

Tại Việt Nam, theo các số liệu được dẫn tại webinar, khoảng 1/3 diện tích tự nhiên, tương đương gần 12 triệu ha đất, đang bị thoái hóa; trong đó khoảng 1,2 triệu ha bị thoái hóa nghiêm trọng. Riêng đất nông nghiệp, khoảng 5 triệu ha đang bị thoái hóa, tương đương khoảng 40% diện tích đất nông nghiệp cả nước. Những con số này cho thấy thoái hóa đất không chỉ là vấn đề môi trường hay sản xuất nông nghiệp, mà liên quan trực tiếp đến sinh kế, an ninh lương thực, nguồn nước và phát triển bền vững.

“Đất không im lặng”, TS. Tô Xuân Phúc nói. Đất không sử dụng ngôn ngữ của con người nhưng “lên tiếng” thông qua những biểu hiện như thoái hóa, xói mòn, suy giảm năng suất, thay đổi cấu trúc và khả năng giữ nước.

Theo TS. Phạm Tuấn Anh, đây cũng là cơ sở để đặt ra vấn đề “quyền của đất”. “Đi tìm quyền cho đất” không nhằm ngay lập tức tạo ra một khung pháp lý mới hay phủ nhận các quyền mà con người đang có đối với đất. Mục tiêu trước hết là xác định những giới hạn cần thiết đối với quyền khai thác của con người, qua đó tạo điều kiện để đất tiếp tục duy trì sự sống và các chức năng sinh thái. “Quyền của đất” vì vậy được tiếp cận trước hết ở góc độ sinh thái - quản trị, dựa trên nền tảng đạo đức sinh thái nhân văn.

Theo TS. Phạm Tuấn Anh, có ba nhóm yếu tố thúc đẩy cách tiếp cận này, gồm thực địa, sự chuyển dịch nhận thức và nhu cầu về trách nhiệm. Thực tế sản xuất cho thấy, để duy trì năng suất và sản lượng, lượng vật tư đầu vào ngày càng tăng. Trong khi đó, chất hữu cơ, sinh vật đất, khả năng giữ nước và nhiều chức năng khác của đất có xu hướng suy giảm.

Đặc biệt tại Tây Nguyên, những dấu hiệu suy kiệt đất thường không xuất hiện ngay sau một mùa vụ mà tích tụ qua nhiều năm. Khi cấu trúc vật lý bị tổn thương, đất bị nén chặt, khả năng giữ nước suy giảm; các yếu tố hóa học mất cân bằng, đất chua hóa; hệ vi sinh vật, nấm cộng sinh và sinh vật đất suy giảm, đó là những tín hiệu cho thấy sức khỏe đất đang bị ảnh hưởng.

Đây chính là nghịch lý cần được nhìn nhận: năng suất và sản lượng có thể tăng, nhưng nền tảng tạo nên những “mùa vàng” lại có nguy cơ suy kiệt. Từ chỗ chỉ quan tâm “cây cần gì”, cần chuyển sang đặt câu hỏi “đất cần gì”; từ nhìn đất như tư liệu sản xuất sang coi đất là nền tảng sinh thái của sản xuất, sinh kế và sự sống. Sự thay đổi nhận thức này dẫn đến một chuyển dịch quan trọng: thay vì chỉ đặt câu hỏi con người có quyền gì đối với đất, cần đặt thêm câu hỏi đất cần những điều kiện gì để duy trì cấu trúc, cân bằng sinh thái và khả năng phục hồi.

TS. Phạm Tuấn Anh cho rằng, quyền của đất chính là điểm tựa để trách nhiệm với đất không chỉ dừng ở lời kêu gọi đạo đức mà trở thành yêu cầu cụ thể trong quản lý và phát triển. Từ đó, chuyên luận đề xuất 4 nguyên tắc định hình quyền của đất: tôn trọng giới hạn sinh thái; trách nhiệm liên thế hệ; sử dụng phải đi cùng trách nhiệm; phòng ngừa và khắc phục suy thoái đất. Trên cơ sở đó, ba quyền tự thân cốt lõi của đất được đề xuất gồm: quyền duy trì cấu trúc vật lý; quyền duy trì cân bằng hóa học; quyền duy trì sự sống sinh học.

Cần cơ chế giám hộ đất, bảo vệ 'vốn' cho tương lai

Theo TS. Phạm Tuấn Anh, thực tiễn quản lý đất đai hiện nay còn một số khoảng trống. Thứ nhất, chức năng sinh thái của đất chưa thực sự được đặt ở vị trí trung tâm. Quản lý vẫn thiên về năng suất cây trồng, sản lượng và giá trị thu được trong từng mùa vụ, trong khi sức khỏe và khả năng phục hồi dài hạn của đất chưa được chú trọng tương xứng.

Thứ hai, thiếu hệ thống theo dõi sức khỏe đất và cảnh báo sớm. Đây là yếu tố cần thiết để phát hiện nguy cơ suy thoái trước khi đất vượt qua ngưỡng mất khả năng phục hồi. Thứ ba, chưa có cơ chế chuyên biệt đủ mạnh để bảo vệ lợi ích dài hạn của đất. Việt Nam đã có Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường và các quy định liên quan, song cần tiếp tục nghiên cứu những cơ chế phù hợp nhằm bảo vệ lâu dài sức khỏe và khả năng phục hồi của đất.

Từ những khoảng trống này, TS. Phạm Tuấn Anh đề xuất mô hình “giám hộ đất”, với sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng địa phương, người sử dụng đất, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và giới khoa học. Theo ông Phạm Tuấn Anh, đây không phải là một tầng quản lý mới mà là sự mở rộng trách nhiệm xã hội đối với đất. Các chủ thể cùng theo dõi, phát hiện sớm, cảnh báo, ngăn chặn và phối hợp xử lý những nguy cơ có thể khiến đất mất khả năng phục hồi. “Giám hộ đất” cũng đặt đất vào vị trí của một nguồn vốn tự nhiên có giới hạn, đòi hỏi con người phải tôn trọng những giới hạn sinh thái trong quá trình khai thác.

TS. Tô Xuân Phúc cho rằng đất không chỉ là phương tiện sản xuất mà là sự nâng đỡ của sự sống. Con người đã lấy dinh dưỡng và nhiều giá trị từ đất thì cũng cần có trách nhiệm trả lại, phục hồi những gì đã lấy đi. Theo cách nhìn này, đất có thể được coi là “vốn của tương lai”. Con người sử dụng đất hôm nay nhưng không chỉ cho thế hệ hiện tại. Đất còn gắn với lợi ích và sự tồn tại của các thế hệ mai sau.

TS. Phạm Tuấn Anh nhấn mạnh, “quyền của đất” không nhằm nhân cách hóa đất hay phủ nhận quyền sử dụng đất của con người. Cốt lõi là đặt ra giới hạn đối với quyền khai thác, bảo đảm đất có thể tiếp tục thực hiện các chức năng sinh thái và duy trì sự sống. “Đi tìm quyền cho đất là hành trình tìm lại trách nhiệm của con người đối với mảnh đất đã và đang nuôi sống sự sống”, ông Phạm Tuấn Anh nói.

Từ thực địa tại Tây Nguyên, nơi có những khu vực đất dốc bị san ủi, cải tạo mạnh để trồng cà phê, TS. Phạm Tuấn Anh cho rằng quyền của đất thực tế không ở đâu xa mà thể hiện ngay trong cách con người ứng xử với đất. Khi con người biết giới hạn quyền khai thác, biết dừng lại trước những tổn thương và bảo vệ các điều kiện để đất duy trì sự sống, đó cũng chính là lúc trao quyền cho đất. “Xét cho cùng, giới hạn quyền của con người đối với đất chính là trao quyền cho đất”, TS. Phạm Tuấn Anh nhấn mạnh.

Đất từ lâu được nhìn nhận chủ yếu như tư liệu sản xuất và nguồn lực kinh tế phục vụ phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, phía sau những mùa vụ, năng suất và giá trị hàng hóa, sức khỏe đất đang chịu nhiều áp lực, đặc biệt tại các vùng chuyên canh cây công nghiệp ở Tây Nguyên.

Nguyễn Hạnh


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ