🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Dự thảo Thông tư khuyến công quốc gia: Đề án 1 năm được tạm ứng 50% kinh phí hỗ trợ

2 giờ trước
Dự thảo Thông tư của Bộ Công Thương quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia đề xuất đối với các đề án thực hiện trong 1 năm, đơn vị thực hiện được tạm ứng 50% kinh phí hỗ trợ sau khi ký hợp đồng; phần kinh phí còn lại được thanh toán sau khi đề án hoàn thành, trên cơ sở khối lượng được nghiệm thu.

Máy dệt thảm xơ dừa bán tự động do chương trình khuyến công địa phương hỗ trợ Công ty TNHH MTV Dừa Nhựt Minh (xã Nhị Long, tỉnh Vĩnh Long) đầu tư. Ảnh tư liệu - minh họa: Thanh Hòa/TTXVN

Theo dự thảo, Thông tư quy định việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện kế hoạch khuyến công quốc gia; tạm ứng, thanh toán, quyết toán, thanh lý kinh phí khuyến công quốc gia đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Dự thảo quy định đề án khuyến công quốc gia gồm: Đề án khuyến công quốc gia điểm, đề án khuyến công quốc gia theo nhóm và đề án khuyến công quốc gia theo đối tượng cụ thể.

Trong đó, đề án khuyến công quốc gia điểm là đề án được lập theo ngành nghề sản xuất các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, vùng, địa phương; có từ 2 nội dung hoạt động khuyến công và 2 đối tượng thụ hưởng trở lên; thời gian thực hiện từ 2 đến 3 năm. Các nội dung hoạt động khuyến công trong đề án điểm có sự liên kết nhằm hỗ trợ thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.

Đề án khuyến công quốc gia theo nhóm là đề án có từ 2 đối tượng thụ hưởng trở lên cùng thực hiện một nội dung hoạt động khuyến công. Đề án theo đối tượng cụ thể là đề án có một đối tượng thụ hưởng xác định cho một nội dung hoạt động khuyến công trên một địa bàn cụ thể.

Về nguyên tắc lập đề án, kế hoạch khuyến công quốc gia, dự thảo yêu cầu phù hợp với chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; phù hợp với quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh; phù hợp với định hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Đồng thời, đề án phải phù hợp với đối tượng, nội dung hoạt động khuyến công, danh mục ngành nghề được hưởng chính sách khuyến công và các quy định liên quan.

Theo dự thảo, nội dung cơ bản của đề án khuyến công quốc gia gồm: Đơn vị thực hiện, đơn vị phối hợp, đơn vị thụ hưởng, địa điểm thực hiện; sự cần thiết và căn cứ của đề án; mục tiêu, quy mô; nội dung, tiến độ thực hiện; dự toán kinh phí; tổ chức thực hiện; hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường, tính bền vững và khả năng nhân rộng sau khi kết thúc hỗ trợ.

Dự thảo cũng quy định việc xét chọn đề án theo nguyên tắc ưu tiên các đề án điểm, ưu tiên ngành nghề, địa bàn theo quy định. Trường hợp các đề án có điều kiện như nhau, ưu tiên xét giao các đề án của đơn vị có kinh nghiệm, năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn, được đánh giá trên cơ sở nguồn nhân lực, khả năng tài chính, cơ sở vật chất và kinh nghiệm triển khai.

Trường hợp các cơ sở công nghiệp nông thôn cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ, dự thảo quy định ưu tiên lựa chọn cơ sở do phụ nữ làm chủ, cơ sở sử dụng nhiều lao động nữ, lao động yếu thế và lao động là người dân tộc thiểu số. Một cơ sở công nghiệp nông thôn có thể được xem xét hỗ trợ kinh phí khuyến công quốc gia nhiều lần trong một năm ngân sách nhưng không cùng một nội dung hoạt động.

Đối với đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dự thảo quy định máy móc, thiết bị được hỗ trợ phải là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ chưa qua sử dụng, còn nguyên nhãn mác của nhà sản xuất và đầy đủ linh phụ kiện. Trường hợp nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu về hồ sơ hải quan và thủ tục nhập khẩu máy móc thiết bị mới.

Máy móc, thiết bị được hỗ trợ phải đáp ứng yêu cầu ứng dụng vào các khâu sản xuất, xử lý ô nhiễm môi trường nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; giảm thiểu ô nhiễm môi trường so với máy móc, thiết bị cơ sở đang sử dụng hoặc tạo ra sản phẩm mới.

Đối với mô hình trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, dự thảo quy định công nghệ được lựa chọn phải vượt trội hơn về năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường so với công nghệ hiện các cơ sở đang áp dụng. Đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, được hỗ trợ 2 mô hình cho cùng một nội dung phổ biến công nghệ mới hoặc sản xuất sản phẩm mới.

Dự thảo cũng quy định về Hệ thống thông tin quản lý khuyến công, là hệ thống phần mềm đồng bộ và số hóa toàn bộ quy trình quản lý đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia từ đăng ký, thẩm định, xét chọn, giao kế hoạch đến triển khai thực hiện; đồng thời tổng hợp dữ liệu, báo cáo thống kê phục vụ quản lý nhà nước về khuyến công.

Về xây dựng kế hoạch, hàng năm Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công chủ trì hướng dẫn các sở công thương, ban, ngành liên quan và tổ chức dịch vụ khuyến công xây dựng kế hoạch khuyến công quốc gia. Các đơn vị thực hiện phối hợp với UBND cấp xã, cộng tác viên khuyến công khảo sát thực tế cơ sở, thu thập nhu cầu hỗ trợ của các cơ sở công nghiệp nông thôn trước khi lập hồ sơ đề án.

Dự thảo quy định trước ngày 15/10 hàng năm, các Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công quốc gia, tổ chức dịch vụ khuyến công cập nhật hồ sơ điện tử đăng ký kế hoạch khuyến công quốc gia qua Hệ thống thông tin quản lý khuyến công để thẩm định cấp Bộ.

Về trách nhiệm thực hiện, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công có trách nhiệm hướng dẫn lập đề án, xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch được phê duyệt; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đề án, nhiệm vụ và quản lý, sử dụng kinh phí; xây dựng, duy trì Hệ thống thông tin quản lý khuyến công.

Sở công thương các địa phương có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân xây dựng kế hoạch; tổ chức nghiệm thu; phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án; cập nhật thông tin, dữ liệu trên hệ thống và tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch khuyến công quốc gia trên địa bàn.

Theo dự thảo, Thông tư này sẽ thay thế các Thông tư số 46/2012/TT-BCT, Thông tư số 20/2017/TT-BCT, Thông tư số 36/2013/TT-BCT và Thông tư số 17/2018/TT-BCT liên quan đến xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia.

Văn Giáp (TTXVN)

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ