Dữ liệu rời rạc kéo quản trị suy giảm
Tại Hội thảo dữ liệu vùng trồng ngày 23/6, Mạng lưới nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp nêu một nghịch lý: Việt Nam sở hữu nhiều dữ liệu nông nghiệp nhưng vẫn thiếu một bức tranh thống nhất về sản xuất.
Ông Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông, cho rằng nguyên nhân không nằm ở số lượng dữ liệu, mà ở việc “các nguồn thông tin đang tồn tại phân tán và chưa được kết nối”.
Rủi ro dữ liệu phân mảnh
Mỗi chủ thể chỉ nắm một phần bức tranh: doanh nghiệp hiểu vùng nguyên liệu, hợp tác xã biết thành viên, địa phương biết cách thống kê. Nhưng gần như không bên nào nhìn thấy toàn bộ ngành hàng, nên nhiều quyết định vẫn dựa trên báo cáo tổng hợp thay vì dữ liệu thời gian thực.
Ông Phạm Tuấn Anh đặt ra ba câu hỏi rất thực tế: Nếu có đơn hàng 1.000 tấn cà phê đạt chuẩn 4C, liệu có xác định ngay vùng nguyên liệu đáp ứng? Vào mùa khô, có biết diện tích cần tưới? Và trong vụ thu hoạch, có thể biết địa phương nào đang thu hoạch cây gì, với sản lượng bao nhiêu?
Theo TS. Phạm Tuấn Anh, nhiều địa phương vẫn nhầm lẫn giữa mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu vùng trồng. Mã số chỉ là công cụ kỹ thuật phục vụ truy xuất, trong khi cơ sở dữ liệu là nền tảng quản trị, giúp nhận diện không gian sản xuất, kết nối chuỗi giá trị và điều hành ngành hàng.
Thực tế, ngành sầu riêng có hơn 40.000 ha nhưng chỉ khoảng 13.000 ha được cấp mã số, trong đó 20% đã ngừng hoạt động. Thách thức lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà ở việc duy trì cập nhật thường xuyên và thu hút sự tham gia của người sản xuất.

Ngày 7/1/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định 25/QĐ-BNNMT về Kế hoạch triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản.
Theo Forest Trends, sự phân mảnh dữ liệu không chỉ gây khó khăn cho quản lý, mà còn tạo rủi ro cho xuất khẩu. Một hộ nông dân có thể bán cùng một lô đất cho nhiều doanh nghiệp, khiến tổng sản lượng khai báo vượt xa thực tế. Nếu bị phát hiện, chuỗi truy xuất mất tính tin cậy.
TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách lâm nghiệp (Forest Trends), chỉ ra rằng một hệ thống dữ liệu liên thông mới có thể phát hiện trùng lặp vùng nguyên liệu và chồng lấn với đất lâm nghiệp, vốn là hai rủi ro lớn khi EUDR yêu cầu truy xuất đến từng lô đất.
Dữ liệu phải “sống” và “sạch”
UBND Sơn La và Điện Biên đang rà soát vùng cà phê có nguy cơ chồng lấn với đất lâm nghiệp để đưa ra khỏi chuỗi cung ứng xuất khẩu sang EU. Dữ liệu vì thế không chỉ phục vụ truy xuất, mà còn trở thành công cụ quản lý rủi ro.
Ông Phạm Đình Lai, Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên, cho biết địa phương hiện có hơn 9.000 ha cà phê và đặt mục tiêu mở rộng lên 20.000 ha vào năm 2030.
Tuy nhiên, vị Chi cục trưởng Điện Biên cũng thừa nhận, giai đoạn đầu xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, tỉnh gặp nhiều khó khăn về phương pháp thu thập, kế hoạch triển khai và nguồn kinh phí.
Trong khi nguồn lực hạn chế, yêu cầu kỹ thuật lại rất cao, đặc biệt với dữ liệu không gian, tọa độ và hiện trạng sử dụng đất. Việc thiếu cơ chế chia sẻ giữa doanh nghiệp và chính quyền khiến thông tin không đồng bộ.
Theo TS. Phúc, cơ sở dữ liệu vùng trồng chính xác không chỉ đáp ứng truy xuất mà còn hỗ trợ chính sách, quy hoạch và thu hút đầu tư. Một số doanh nghiệp đã nhìn thấy giá trị vượt ra ngoài yêu cầu pháp lý, thậm chí sẵn sàng trả tiền để tiếp cận dữ liệu tin cậy.
Ông chỉ ra một hiểu lầm phổ biến: coi xây dựng cơ sở dữ liệu là dự án có điểm kết thúc. Trong thực tế, sản xuất nông nghiệp luôn biến động về diện tích, cây trồng, liên kết và chủ sử dụng đất. Bộ dữ liệu lập một lần rồi để nguyên sẽ nhanh chóng lạc hậu.
Nhóm nghiên cứu đề xuất dữ liệu vùng trồng phải “sống” (cập nhật thường xuyên) và “sạch” (đầy đủ, chính xác, kiểm chứng được). Cách tiếp cận “từ dưới lên” huy động chính quyền cơ sở, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia cập nhật.
Trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, dữ liệu vùng trồng không chỉ là yêu cầu kỹ thuật cho xuất khẩu. Nó còn giúp phát hiện rủi ro, điều phối nguồn lực, quy hoạch và nâng cao chất lượng điều hành ngành hàng.
Theo nhóm nghiên cứu, giá trị của dữ liệu không nằm ở việc được lưu trữ, mà ở khả năng được kết nối. Khi các "ốc đảo dữ liệu" được hợp nhất, dữ liệu vùng trồng sẽ không chỉ phục vụ truy xuất nguồn gốc, mà trở thành hạ tầng của quản trị ngành hàng.
Hải Vân
3 giờ trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
10 ngày trước
26 phút trước
46 phút trước
5 giờ trước
Vừa xong
8 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
28 phút trước
34 phút trước
39 phút trước